Tykva's blog
Nơi lưu giữ các bản dịch của Tykva (NNN và NCĐ)
Friday, October 6, 2023
Alexander Glazunov
Alexander Glazunov
Alexander Glazunov là nhà soạn nhạc lớn người Nga, ngoài ra ông còn là một nhạc sư có nhiều ảnh hưởng, nhạc trưởng, nhà hoạt động xã hội, thành viên nhóm Beliaev. Mối quan hệ với các nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng như M.A. Balakiriev, A.P. Borodin, P.I. Tchaikovsky, X.I. Taneev, V.V. Stassov có ảnh hưởng lớn đến sự định hình phong cách và các nguyên tắc sáng tạo của Glazunov.
Alexander Konstantinovich Glazunov sinh ngày 10 tháng 8 năm 1865 tại thành phố St Petersburg. Ông học âm nhạc dưới sự hướng dẫn của nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng Nikolai Rimsky-Korsakov theo lời giới thiệu của Mily Balakirev, người mà ông gặp gỡ ở tuổi mười bốn.
Alexander Glazunov sáng tác từ rất sớm. Bản giao hưởng đầu tiên trong số 9 giao hưởng của ông được công diễn năm ông mới 16 tuổi. Bản thơ giao hưởng nổi tiếng “Stenka Razin” của ông cũng ra đời trong giai đoạn này. Tác phẩm của ông sớm trở nên nổi tiếng cả trong và ngoài nước Nga một phần nhờ sự ủng hộ tích cực của nhà soạn nhạc người Hungary Franz Liszt.
Alexander Glazunov bắt đầu sự nghiệp chỉ huy dàn nhạc năm 1888. Từ đó ông thường xuyên biểu diễn ở Nga và nước ngoài với tư cách nhạc trưởng. Ông cũng được bổ nhiệm làm nhạc trưởng của mùa hòa nhạc giao hưởng Nga năm 1896. Ông cũng là nhạc trưởng tại buổi công diễn lần đầu đầy thảm khốc bản giao hưởng No. 1 của Sergei Rachmaninov. Hình như buổi công diễn này thất bại hoàn toàn phần nào do Glazunov đã uống say tại thời điểm đó.
Năm 1899, Glazunov trở thành giáo sư tại trường âm nhạc St Petersburg. Năm 1905 ông từ nhiệm để bày tỏ sự bất đồng chính kiến với ban giám đốc và trở lại Nhạc viện vào cuối năm đó với vai trò Giám đốc. Ông đã làm việc tại đây cho đến khi xảy ra những sự kiện vĩ đại năm 1917. Sau khi thế chiến thứ nhất kết thúc, Glazunov tích cực tham gia vào xây dựng nền văn hoá Xô viết, cải cách giáo dục âm nhạc, tham gia vào các hoạt động xã hội phổ biến âm nhạc hàn lâm. Ông đã đóng góp tâm huyết vào việc tái lập nhạc viện Leningrad.
Glazunov rời nước Nga năm 1928. Ông đã sang Vienna tham gia Ban giám khảo cuộc thi âm nhạc quốc tế mang tên Shubert, nhưng do tình trạng sức khoẻ nên không thể trở lại Nga. Ông đã tới châu Âu và Hoa Kỳ rồi định cư ở Paris, nơi ông qua đời. Ông luôn khẳng định rằng việc ông rời xa nước Nga liên tục như thế là vì lý do sức khỏe ; điều này khiến ông vẫn được coi là nhà soạn nhạc đáng kính ở Liên Xô, không giống như Igor Stravinsky và Rachmaninov, những người đã rời bỏ nước Nga vì những lý do khác.
Glazunov là một trong các nhà soạn nhạc Nga nổi tiếng nhất thời kỳ cuối thế kỷ 19 - đầu thế kỷ 20. Ông tiếp tục các truyền thống âm nhạc của Tchaikovsky và nhóm Khoẻ, đồng thời kết hợp tài tình hai dòng nhạc trữ tình anh hùng ca và trữ tình chính kịch trong âm nhạc Nga. Trong sự nghiệp sáng tác của ông nhạc giao hưởng chiếm một vị trí quan trọng với các hình tượng anh hùng của anh hùng ca dân gian Nga, các bức tranh phong cảnh quê hương, hiện thực Nga, các bài ca dân gian của các dân tộc Slav và phương Đông.
Các tác phẩm của Glazunov nổi bật với các đề tài đậm nét, mọi nhạc cụ trong dàn nhạc vang rõ, tròn đầy, cách sử dụng kỹ thuật phức điệu điêu luyện. Nối tiếp các truyền thống của Tchaikovsky, ông nâng cao đáng kể vai trò của âm nhạc trong ballet. Ông cũng soạn lại một số lượng lớn dân ca Nga, Séc, Hy lạp, hoàn chỉnh opera “Công tước Igor” (với những vũ khúc Polovetsian nổi tiếng) cùng với Rimsky-Korsakov, ghi lại theo trí nhớ phần đầu bản giao hưởng số 3 của Borodin, tham gia vào quá trình biên tập chuẩn bị xuất bản toàn tập tác phẩm của M.I. Glinka. Ông dàn dựng nhiều tác phẩm của các nhà soạn nhạc Nga và thế giới.
Glazunov là tác giả của 9 bản giao hưởng (bản cuối cùng chưa hoàn thành). Trong các tác phẩm này tính anh hùng ca và màu sắc âm nhạc dân gian kết hợp chặt chẽ hài hoà với kỹ thuật điêu luyện. Âm nhạc của Glazunov ấm áp, chân thành, rõ ràng và thể hiện xúc cảm cân bằng. Các giao hưởng được coi như đỉnh cao của nhà soạn nhạc có thể kể giao hưởng số 5 (1895) trong sáng, tràn trề nghị lực và lòng dũng cảm, các giao hưởng số 6 (1896) và số 8 (1906) đầy tâm trạng kịch tính và các suy tư triết học sâu sắc. Ông cũng viết hàng loạt các tác phẩm thể loại thơ giao hưởng, mà nổi tiếng nhất là thơ giao hưởng “Stenka Razin” (1885), và tổ khúc “Từ thời Trung cổ” (1902). Một trong các tác phẩm đỉnh cao của Glazunov là concerto cho violin và dàn nhạc (1904). Ngoài ra còn có các vở ballet “Raimonda” (do nhà hát Mariinsky St.Peterburg dàn dựng năm 1898), “Tiểu thư-người hầu, hay là Thử thách của Damis” (do nhà hát Ermitage, St. Peterburg dàn dựng năm 1900) và “Bốn mùa” (do nhà hát Ermitage , St. Peterburg dàn dựng năm 1900) cùng 7 tứ tấu, 2 sonata và nhiều tác phẩm khác cho piano, các romance.
Năm 1929, Glazunov chỉ huy một dàn nhạc gồm những nhạc công Paris trong bản thu điện trọn vẹn đầu tiên vở ballet một màn “Bốn mùa” của mình. Bản thu này, về sau được phát hành lại trên đĩa LP và CD, cho chúng ta thấy ông là một nhà chỉ huy điêu luyện.
Trong sự nghiệp của mình, Alexander Glazunov nhận được rất nhiều vinh dự. Ông là Phó chủ tịch danh dự của Hội Nhạc giao hưởng Nga tại Anh (1906), Giáo sư danh dự các trường Đại học Cambridge và Oxford (1907), Viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Quốc gia Santa Cecilia (1914), Viện sĩ Viện Hàn lâm Âm Nhạc Stockholm (1929). Từ năm 1885 đến năm 1903 ông được trao tặng giải thưởng Glinka hàng năm. Năm 1922 ông được phong tặng danh hiệu nghệ sĩ nhân dân Nga.
Glazunov qua đời vào ngày 21 tháng 3 năm 1936 tại Paris. Đến năm 1972 di hài ông được chuyển về Leningrad. Con gái ông là Elena Glazunova-Gyunter đã viết một hồi ký xúc động về quãng đời và hoạt động âm nhạc ở nước ngoài của cha mình.
Nguyễn Quỳnh Hương (nhaccodien.info)
Sunday, January 14, 2007
Emil Grigoryevich Gilels
Emil Grigoryevich Gilels được coi là một trong những nghệ sĩ piano vĩ đại nhất của Liên Xô và thế giới trong thế kỉ 20.
Emil Gilels sinh tại Odessa vào ngày 19 tháng 10 năm 1916 trong một gia đình Do thái có truyền thống âm nhạc, cha mẹ ông đều là các nhạc công. Trong hồi ký của mình, ông kể về gia đình và cha mẹ mình như sau: “Gia đình tôi rất lớn. Cha và mẹ tôi đều thuộc diện “rổ rá cạp lại” và đã có con riêng trước khi đến với nhau. Mẹ tôi có 2 con gái riêng, còn cha tôi cũng có 3 con trai. Tôi và em gái Liza là nhỏ nhất và lớn lên trong tình thương của các anh chị. Trong nhà lúc nào cũng náo nhiệt và vui vẻ. Cha tôi rất nhân hậu, dịu dàng và khiêm tốn, rất chỉnh tề, ông viết rất đẹp, kể cả các bản nhạc. Ông có tai nhạc tuyệt đối và đôi khi hát các bài thánh ca bằng một thứ tiếng mà tôi không hiểu. Mẹ tôi là người gánh vác tất cả mọi khó khăn vất vả, và gia đình tôi nhờ có mẹ mà đứng vững. Mẹ tôi có cá tính và ý chí mạnh, rất độc lập và kiêu hãnh. Không bao giờ người ngoài được biết rằng gia đình tôi sống trong nghèo khó”.
Ngay từ thời thơ ấu cậu bé Gilels đã sớm bộc lộ sở thích lớn với âm nhạc. Trong nhà ông lúc bấy giờ có một cây đàn piano hiệu “Schroder”, và ông đã ngồi chơi ngẫu hứng trên cây đàn. Cha mẹ ông chú ý đến khuynh hướng âm nhạc của con và khi ông chưa được 4 tuổi đã đưa đến một nhà sư phạm nổi tiếng Odessa là Yakov Isaevich Tkach. Tuy nhiên đến khi Gilels lên sáu đuổi thì việc học mới bắt đầu. Tkach là học sinh của một pianist nổi tiếng người Pháp thế kỉ 19 nên thừa hưởng những nguyên tắc của trường phái âm nhạc phương Tây, ngay từ đầu ông đã phát hiện ra tài năng âm nhạc của đứa trẻ. Trong một nhận xét được lưu giữ lại của Tkach năm 1925 có viết: "Gilels, 10 tuổi, có một khả năng xuất chúng kì lạ. Tự nhiên đã ban cho nó một đôi tay phi thường và một nhạc cảm hiếm thấy... nó sinh ra chỉ đế dành riêng cho cây đàn piano mà thôi. Khi nó nhận được một sự giáo dục thích hợp, đất nước Liên Xô sẽ chiếm thêm một tỉ lệ lớn trong những pianist của thế giới".
Lên 5 tuổi thì Gilels học đọc và viết. Đặc biệt khả năng tiếp thu âm nhạc phát triển nhanh khác thường. Sau một năm ông đã có thể chơi được sonata của Clementi, Mozart và những prelude ngắn của Bach và chẳng bao lâu được nhận vào trường âm nhạc số 3. Và trong trường ông cũng học với tốc độ rất nhanh và luôn nhảy lớp, ví dụ từ lớp 4 nhảy lên lớp 6.
Gilels ra mắt công chúng lần đầu tiên năm 12 tuổi trong một buổi hoà nhạc độc tấu vào ngày 11 tháng 6 năm 1929. Năm 1979, 50 năm sự kiện này đã được kỷ niệm ở Liên Xô và cả ở nước ngoài. Chương trình buổi biểu diễn rất nặng, dù nghệ sĩ mới 12 tuổi: Sonata "Pathetique" của Beethoven, các tác phẩm của Scarlatti, Mendelssohn, Chopin và etude của Liszt. Dù vậy, sự thành công rực rỡ của nó đánh dấu sự trưởng thành của Gilels - pianist.
Mặc dù có được những thành công rất sớm nhưng ông vẫn cần phải học thêm nhiều trông lĩnh vực âm nhạc vô vùng rộng lớn. Năm 1930 ,Gilels chia tay với Tkach để vào học tại Nhạc viện Odessa, và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhà giáo lỗi lạc Berta Reingbald, người mà suốt đời ông coi như người thầy, người bạn lớn của mình. Sau này ông đã viết: "Những nhà giáo âm nhạc mà sẵn sàng hi sinh bản thân và quyền lợi cá nhân mình, trong lịch sử ngành sư phạm chỉ có một. Tôi có 3 người thầy, và một trong số đó là một người Thầy chân chính. Người Thầy được viết hoa này chính là Berta Mikhailovna Reingbald". Bà là con gái của một kiến trúc sư nổi tiếng của Odessa, người có văn hóa và kiến thức uyên bác. Gilels vào lớp của Reingbald khi còn là cậu bé 13 tuổi, ương bướng và quả quyết. Lúc ấy ông đã có một kĩ thuật xuất chúng và tính khí mãnh liệt không kìm nén được, trí tuệ cố hữu nhưng chưa có cái tổng quát và văn hóa âm nhạc.
Sau những giờ học với bầu không khí nghiêm khắc và khô khan của Reingbald, Gilels rơi vào một thế giới hoàn toàn khác: văn hóa cao, trí thức, đầy tình cảm. Reingbald đã bắt đầu tạo ra một sự phát triển âm nhạc chung cho Gilels: ông thường lui tới các buổi hòa nhạc, nhà hát và rất hay đọc báo. Bà tạo ra một môi trường âm nhạc xung quanh ông, thường đưa ông đến tham dự với các nhóm những nhà âm nhạc học, những buổi dạy của các giáo sư.
Năm 1932, Arthur Rubinstein có một buổi biểu diễn tại Odessa, lần đấy ông được mời đến nhạc viện để nghệ một số nghệ sĩ trẻ biểu diễn, trong hồi ký ông có viết: "Hiệu trưởng giới thiệu cho tôi một cậu bé nhỏ con tóc hung, cậu ta rụt rè bắt tay tôi và đi thẳng đến piano. Với một vài đoạn đầu của Appassionata của Beethoven, tôi cảm thấy trước mặt tôi là một tài năng thiên bẩm thực sự. Tôi yêu cầu anh ta chơi thêm một vài bản và anh ấy chơi một bản không nổi tiếng lắm Jeux d'eau của Ravel như để kết thúc khóa master class. Tôi đã hôn cậu ấy cả hai bên và hỏi tên, đấy là Emil Gilels."
Năm 1933, ở tuổi 16 ông giành chiến thắng trong cuộc thi piano toàn Liên bang mới được tổ chức lần đầu tiên. “Bài biểu diễn của Gilels tại cuộc thi này giống như một cú sốc trong thời thanh niên của tôi - về sau này, giáo sư Nhạc viện Moscow Ya. Flier viết trong hồi ký của mình. Tôi tuyệt đối tin tưởng rằng vào năm 16 tuổi Gilels đã là một pianist tầm cỡ quốc tế.”
Sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Odessa năm 1935 ông đến Moscow, tiếp tục học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên piano nổi tiếng Heinrich Neuhaus cho đến năm 1937. Vào lúc đấy, tên tuổi ông đã nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà đã lan ra nước ngoài. Năm 1936, ông đoạt giải nhì trong cuộc thi Vienna International Piano Competition.
Hai năm sau, ở tuổi 22 ông giành chiến thắng trong Ysaÿe International Festival tổ chức ở Brussels trước các đối thủ lừng danh như Arturo Benedetti Michelangeli và Moura Lympany.
Gilels chịu ảnh hưởng đặc biệt từ âm nhạc Prokofiev, nhạc sĩ mà ông được nghe lần đầu tiên vào năm 1927 khi mới 11 tuổi, tại một buổi hoà nhạc ở Odessa, khi nhà soạn nhạc tự trình diễn tác phẩm của mình. Cùng có mặt tại buổi biểu diễn đó còn có Sviatoslav Richter, người sau này sẽ cùng với Gilels chia sẻ danh hiệu "pianist hàng đầu" của Liên Xô. Về sau, Gilels có lần thừa nhận Richter là nghệ sĩ piano duy nhất mà ông cho là giỏi hơn mình. Tuy nhiên, ai là người trình diễn các tác phẩm của Prokofiev giỏi hơn, Gilels hay Richter thì vẫn luôn là vấn đề gây tranh cãi. Dù sao đi chăng nữa thì cả hai được thừa nhận là các pianist lớn nhất của Liên Xô, và cả hai đều khiến người ta liên tưởng đến các tác phẩm dành cho piano của Prokofiev: Richter đã trình diễn ra mắt công chúng hai sonata dành cho piano của nhà soạn nhạc này, còn Gilels cũng trình diễn một bản. Prokofiev dành cho Gilels piano sonata số 8, và ông đã trình diễn ra mắt bản nhạc này ngày 30 tháng 12 năm 1944 tại phòng lớn của Nhạc viện Moscow.
Những bản nhạc được Gilels yêu thích nhất là Sonata No 3 và 8 dành cho piano của Prokofiev, march và scherzo từ vở opera "Love for Three Oranges", và tuyển tập Visions Fugitives, Op. 22.
Gilels là nghệ sĩ Liên Xô đầu tiên được phép lưu diễn ở phương Tây. Sau chiến tranh, ông đã thực hiện chuyến lưu diễn châu Âu từ năm 1947 với tư cách là nghệ sĩ piano, và ra mắt công chúng châu Mỹ ở Philadelphia năm 1955 với Piano Concerto No. 1 của nhà soạn nhạc thiên tài người Nga Tchaikovsky với Fritz Reiner và dàn nhạc Chicago Symphony Orchestra. Tên tuổi ông đã trở nên rất nổi tiếng. Báo chi Pháp viết: "Gilels vĩ đại đã đến với chúng ta". Thính giả Anh quốc nổi tiếng lạnh lùng cũng đứng lên vỗ tay hoan hô ông suốt 17 phút. Tại Ý, buổi biểu diễn đã không thể kết thúc vì khán giả như phát điên lên khiến ông phải ra ngoài bằng lối thoát hiểm.
Thế những ông vẫn sống rất trầm tĩnh, thậm chí là khép kín. Những buổi biểu diễn của ông có thể nói là khổng lồ: trong thập niên 60 - 70 ông biểu diễn các tác phẩm của 70 nhạc sĩ với hơn 400 tác phẩm khác nhau cho piano. Trong những năm 50, ông chơi toàn bộ concerto của Beethoven và nhận hai hợp đồng lớn. Ông thu âm với rất nhiều nhạc trưởng khác nhau, và những bản thu âm này được đánh giá là chuẩn mực. Tạp chí "Piano" của Anh đã gọi đây là những bản thu bất tử.
Từ năm 1952 ông trở thành giảng viên Nhạc viện Moscow, và từ đó cho đến cuối đời ông chủ yếu sống ở Nga, rất hiếm khi ra nước ngoài. Trong số học trò của ông có những nghệ sĩ piano nổi tiếng như V. Aphanasiev, M. Mdivani, I. Zhukov, I. Smorodinova.
Ông chơi rất nhiều nhạc thính phòng: trong 15 năm ông chơi duet piano với pianist trẻ Zak, những tác phẩm cho violin cùng người em gái xinh đẹp và mảnh mai Elizaveta Gilels (sau này đã trở thành vợ của Leonid Kogan), rồi sau đó chơi trio với violinist Leonid Kogan và cellist Mstislav Rostropovich. Trio của ba nghệ sĩ vĩ đại này đã nổi tiếng trên khắp thế giới, trong thời gian biểu diễn ở London họ đã được gọi là "GKR bất tử". Ông cũng chơi cùng các nhóm tứ tấu Beethoven, Borodin và Amadeus.
Từ thập kỷ 70 ông bắt đầu biểu diễn chung với con gái Elena Emilievna Gilels (1948 - 1996) sau khi cô tốt nghiệp Nhạc viện Moscow lớp của nhà sư phạm âm nhạc nổi tiếng Ya. Flier. Hai cha con đã cùng biểu diễn những tác phẩm như concerto và sonata của Mozart hay các nhạc phẩm của Schubert.
Ông từng vinh dự được nhận các giải thưởng danh giá như giải Stalin năm 1946, Huân chương Lenin các năm 1961 và 1966, và giải thưởng Lênin năm 1962. Năm 1954 ông được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Xôviết, và năm 1976 – danh hiệu Anh hùng lao động Liên Xô. Ông là Viện sĩ danh dự của Viện âm nhạc hoàng gia Anh Quốc, Viện hàn lâm Quốc gia “Santa Cecilia” (Rome), Viện âm nhạc quốc gia Liszt (Budapest).
Gilels vô cùng nổi tiếng với kỹ thuật điêu luyện và phong cách bốc lửa. Dù các tác phẩm nhạc cổ điển Đức - Áo, đặc biệt là Beethoven, Brahms và Schumann luôn là đỉnh cao trong sự nghiệp của Gilels, nhưng ông cũng toả sáng với Scarlatti, Bach và các tác giả cổ điển cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20 như Debussy, Bartók và Prokofiev.
Gilels được coi là một trong những nghệ sĩ piano suất sắc nhất mọi thời đại. Danh mục các tác phẩm mà ông biểu diễn vô cùng rộng lớn, bao gồm gần như toàn bộ các tác phẩm dành cho piano từ Bach và Scarlatti cho đến các nhạc sĩ thế kỷ 20. Các đỉnh cao về trình diễn có thể kể các nhạc phẩm của Liszt, đặc biệt bản âm các fantasia theo chủ đề từ opera “La nozze di Figaro” (Mozart) được coi như một sự kiện gây chấn động, các nhạc phẩm của Saint-Saens, Debussy, Ravel, Tchaikovsky, Rachmaninov, Scriabin, Prokofiev, Shostakovich và Vainberg. Ông từng biểu diễn và ghi âm các tác phẩm của Kabalevsky, Pulenka, Vladigerov. Chiếm vị trí đặc biệt trong danh mục các tác phẩm ông biểu diễn là Beethoven, những năm cuối đời ông thực hiện ghi âm tất cả các sonata của Beethoven, nhưng đáng tiếc đã không kịp thực hiện trọn vẹn dự định của mình.
Gilels qua đời đột ngột sau một lần khám sức khoẻ ở Moscow ngày 14 tháng 10 năm 1985, trước sinh nhật lần thứ 69 của mình 5 ngày, để lại một công trình ghi dở dang về các sonata dành cho piano của Beethoven theo đơn đặt hàng của hãng đĩa hát Deutsche Grammophon (chỉ thu được 29 sonata). Sviatoslav Richter, người bạn thân biết rất rõ về con người Gilels khẳng định ông qua đời do lỗi bất cẩn của các bác sĩ đã thực hiện việc khám sức khoẻ cho Gilels.
Tykva và Apomethe (tổng hợp)
Nguồn:
- http://www.alefmagazine.com
- http://www.eleven.co.il
- http://www.prazdniki.ru
- http://www.prokofiev.org
- http://www.answers.com
Emil Gilels sinh tại Odessa vào ngày 19 tháng 10 năm 1916 trong một gia đình Do thái có truyền thống âm nhạc, cha mẹ ông đều là các nhạc công. Trong hồi ký của mình, ông kể về gia đình và cha mẹ mình như sau: “Gia đình tôi rất lớn. Cha và mẹ tôi đều thuộc diện “rổ rá cạp lại” và đã có con riêng trước khi đến với nhau. Mẹ tôi có 2 con gái riêng, còn cha tôi cũng có 3 con trai. Tôi và em gái Liza là nhỏ nhất và lớn lên trong tình thương của các anh chị. Trong nhà lúc nào cũng náo nhiệt và vui vẻ. Cha tôi rất nhân hậu, dịu dàng và khiêm tốn, rất chỉnh tề, ông viết rất đẹp, kể cả các bản nhạc. Ông có tai nhạc tuyệt đối và đôi khi hát các bài thánh ca bằng một thứ tiếng mà tôi không hiểu. Mẹ tôi là người gánh vác tất cả mọi khó khăn vất vả, và gia đình tôi nhờ có mẹ mà đứng vững. Mẹ tôi có cá tính và ý chí mạnh, rất độc lập và kiêu hãnh. Không bao giờ người ngoài được biết rằng gia đình tôi sống trong nghèo khó”.
Ngay từ thời thơ ấu cậu bé Gilels đã sớm bộc lộ sở thích lớn với âm nhạc. Trong nhà ông lúc bấy giờ có một cây đàn piano hiệu “Schroder”, và ông đã ngồi chơi ngẫu hứng trên cây đàn. Cha mẹ ông chú ý đến khuynh hướng âm nhạc của con và khi ông chưa được 4 tuổi đã đưa đến một nhà sư phạm nổi tiếng Odessa là Yakov Isaevich Tkach. Tuy nhiên đến khi Gilels lên sáu đuổi thì việc học mới bắt đầu. Tkach là học sinh của một pianist nổi tiếng người Pháp thế kỉ 19 nên thừa hưởng những nguyên tắc của trường phái âm nhạc phương Tây, ngay từ đầu ông đã phát hiện ra tài năng âm nhạc của đứa trẻ. Trong một nhận xét được lưu giữ lại của Tkach năm 1925 có viết: "Gilels, 10 tuổi, có một khả năng xuất chúng kì lạ. Tự nhiên đã ban cho nó một đôi tay phi thường và một nhạc cảm hiếm thấy... nó sinh ra chỉ đế dành riêng cho cây đàn piano mà thôi. Khi nó nhận được một sự giáo dục thích hợp, đất nước Liên Xô sẽ chiếm thêm một tỉ lệ lớn trong những pianist của thế giới".
Lên 5 tuổi thì Gilels học đọc và viết. Đặc biệt khả năng tiếp thu âm nhạc phát triển nhanh khác thường. Sau một năm ông đã có thể chơi được sonata của Clementi, Mozart và những prelude ngắn của Bach và chẳng bao lâu được nhận vào trường âm nhạc số 3. Và trong trường ông cũng học với tốc độ rất nhanh và luôn nhảy lớp, ví dụ từ lớp 4 nhảy lên lớp 6.
Gilels ra mắt công chúng lần đầu tiên năm 12 tuổi trong một buổi hoà nhạc độc tấu vào ngày 11 tháng 6 năm 1929. Năm 1979, 50 năm sự kiện này đã được kỷ niệm ở Liên Xô và cả ở nước ngoài. Chương trình buổi biểu diễn rất nặng, dù nghệ sĩ mới 12 tuổi: Sonata "Pathetique" của Beethoven, các tác phẩm của Scarlatti, Mendelssohn, Chopin và etude của Liszt. Dù vậy, sự thành công rực rỡ của nó đánh dấu sự trưởng thành của Gilels - pianist.
Mặc dù có được những thành công rất sớm nhưng ông vẫn cần phải học thêm nhiều trông lĩnh vực âm nhạc vô vùng rộng lớn. Năm 1930 ,Gilels chia tay với Tkach để vào học tại Nhạc viện Odessa, và chịu ảnh hưởng sâu sắc của nhà giáo lỗi lạc Berta Reingbald, người mà suốt đời ông coi như người thầy, người bạn lớn của mình. Sau này ông đã viết: "Những nhà giáo âm nhạc mà sẵn sàng hi sinh bản thân và quyền lợi cá nhân mình, trong lịch sử ngành sư phạm chỉ có một. Tôi có 3 người thầy, và một trong số đó là một người Thầy chân chính. Người Thầy được viết hoa này chính là Berta Mikhailovna Reingbald". Bà là con gái của một kiến trúc sư nổi tiếng của Odessa, người có văn hóa và kiến thức uyên bác. Gilels vào lớp của Reingbald khi còn là cậu bé 13 tuổi, ương bướng và quả quyết. Lúc ấy ông đã có một kĩ thuật xuất chúng và tính khí mãnh liệt không kìm nén được, trí tuệ cố hữu nhưng chưa có cái tổng quát và văn hóa âm nhạc.
Sau những giờ học với bầu không khí nghiêm khắc và khô khan của Reingbald, Gilels rơi vào một thế giới hoàn toàn khác: văn hóa cao, trí thức, đầy tình cảm. Reingbald đã bắt đầu tạo ra một sự phát triển âm nhạc chung cho Gilels: ông thường lui tới các buổi hòa nhạc, nhà hát và rất hay đọc báo. Bà tạo ra một môi trường âm nhạc xung quanh ông, thường đưa ông đến tham dự với các nhóm những nhà âm nhạc học, những buổi dạy của các giáo sư.
Năm 1932, Arthur Rubinstein có một buổi biểu diễn tại Odessa, lần đấy ông được mời đến nhạc viện để nghệ một số nghệ sĩ trẻ biểu diễn, trong hồi ký ông có viết: "Hiệu trưởng giới thiệu cho tôi một cậu bé nhỏ con tóc hung, cậu ta rụt rè bắt tay tôi và đi thẳng đến piano. Với một vài đoạn đầu của Appassionata của Beethoven, tôi cảm thấy trước mặt tôi là một tài năng thiên bẩm thực sự. Tôi yêu cầu anh ta chơi thêm một vài bản và anh ấy chơi một bản không nổi tiếng lắm Jeux d'eau của Ravel như để kết thúc khóa master class. Tôi đã hôn cậu ấy cả hai bên và hỏi tên, đấy là Emil Gilels."
Năm 1933, ở tuổi 16 ông giành chiến thắng trong cuộc thi piano toàn Liên bang mới được tổ chức lần đầu tiên. “Bài biểu diễn của Gilels tại cuộc thi này giống như một cú sốc trong thời thanh niên của tôi - về sau này, giáo sư Nhạc viện Moscow Ya. Flier viết trong hồi ký của mình. Tôi tuyệt đối tin tưởng rằng vào năm 16 tuổi Gilels đã là một pianist tầm cỡ quốc tế.”
Sau khi tốt nghiệp Nhạc viện Odessa năm 1935 ông đến Moscow, tiếp tục học tập dưới sự hướng dẫn của giáo viên piano nổi tiếng Heinrich Neuhaus cho đến năm 1937. Vào lúc đấy, tên tuổi ông đã nổi tiếng không chỉ ở trong nước mà đã lan ra nước ngoài. Năm 1936, ông đoạt giải nhì trong cuộc thi Vienna International Piano Competition.
Hai năm sau, ở tuổi 22 ông giành chiến thắng trong Ysaÿe International Festival tổ chức ở Brussels trước các đối thủ lừng danh như Arturo Benedetti Michelangeli và Moura Lympany.
Gilels chịu ảnh hưởng đặc biệt từ âm nhạc Prokofiev, nhạc sĩ mà ông được nghe lần đầu tiên vào năm 1927 khi mới 11 tuổi, tại một buổi hoà nhạc ở Odessa, khi nhà soạn nhạc tự trình diễn tác phẩm của mình. Cùng có mặt tại buổi biểu diễn đó còn có Sviatoslav Richter, người sau này sẽ cùng với Gilels chia sẻ danh hiệu "pianist hàng đầu" của Liên Xô. Về sau, Gilels có lần thừa nhận Richter là nghệ sĩ piano duy nhất mà ông cho là giỏi hơn mình. Tuy nhiên, ai là người trình diễn các tác phẩm của Prokofiev giỏi hơn, Gilels hay Richter thì vẫn luôn là vấn đề gây tranh cãi. Dù sao đi chăng nữa thì cả hai được thừa nhận là các pianist lớn nhất của Liên Xô, và cả hai đều khiến người ta liên tưởng đến các tác phẩm dành cho piano của Prokofiev: Richter đã trình diễn ra mắt công chúng hai sonata dành cho piano của nhà soạn nhạc này, còn Gilels cũng trình diễn một bản. Prokofiev dành cho Gilels piano sonata số 8, và ông đã trình diễn ra mắt bản nhạc này ngày 30 tháng 12 năm 1944 tại phòng lớn của Nhạc viện Moscow.
Những bản nhạc được Gilels yêu thích nhất là Sonata No 3 và 8 dành cho piano của Prokofiev, march và scherzo từ vở opera "Love for Three Oranges", và tuyển tập Visions Fugitives, Op. 22.
Gilels là nghệ sĩ Liên Xô đầu tiên được phép lưu diễn ở phương Tây. Sau chiến tranh, ông đã thực hiện chuyến lưu diễn châu Âu từ năm 1947 với tư cách là nghệ sĩ piano, và ra mắt công chúng châu Mỹ ở Philadelphia năm 1955 với Piano Concerto No. 1 của nhà soạn nhạc thiên tài người Nga Tchaikovsky với Fritz Reiner và dàn nhạc Chicago Symphony Orchestra. Tên tuổi ông đã trở nên rất nổi tiếng. Báo chi Pháp viết: "Gilels vĩ đại đã đến với chúng ta". Thính giả Anh quốc nổi tiếng lạnh lùng cũng đứng lên vỗ tay hoan hô ông suốt 17 phút. Tại Ý, buổi biểu diễn đã không thể kết thúc vì khán giả như phát điên lên khiến ông phải ra ngoài bằng lối thoát hiểm.
Thế những ông vẫn sống rất trầm tĩnh, thậm chí là khép kín. Những buổi biểu diễn của ông có thể nói là khổng lồ: trong thập niên 60 - 70 ông biểu diễn các tác phẩm của 70 nhạc sĩ với hơn 400 tác phẩm khác nhau cho piano. Trong những năm 50, ông chơi toàn bộ concerto của Beethoven và nhận hai hợp đồng lớn. Ông thu âm với rất nhiều nhạc trưởng khác nhau, và những bản thu âm này được đánh giá là chuẩn mực. Tạp chí "Piano" của Anh đã gọi đây là những bản thu bất tử.
Từ năm 1952 ông trở thành giảng viên Nhạc viện Moscow, và từ đó cho đến cuối đời ông chủ yếu sống ở Nga, rất hiếm khi ra nước ngoài. Trong số học trò của ông có những nghệ sĩ piano nổi tiếng như V. Aphanasiev, M. Mdivani, I. Zhukov, I. Smorodinova.
Ông chơi rất nhiều nhạc thính phòng: trong 15 năm ông chơi duet piano với pianist trẻ Zak, những tác phẩm cho violin cùng người em gái xinh đẹp và mảnh mai Elizaveta Gilels (sau này đã trở thành vợ của Leonid Kogan), rồi sau đó chơi trio với violinist Leonid Kogan và cellist Mstislav Rostropovich. Trio của ba nghệ sĩ vĩ đại này đã nổi tiếng trên khắp thế giới, trong thời gian biểu diễn ở London họ đã được gọi là "GKR bất tử". Ông cũng chơi cùng các nhóm tứ tấu Beethoven, Borodin và Amadeus.
Từ thập kỷ 70 ông bắt đầu biểu diễn chung với con gái Elena Emilievna Gilels (1948 - 1996) sau khi cô tốt nghiệp Nhạc viện Moscow lớp của nhà sư phạm âm nhạc nổi tiếng Ya. Flier. Hai cha con đã cùng biểu diễn những tác phẩm như concerto và sonata của Mozart hay các nhạc phẩm của Schubert.
Ông từng vinh dự được nhận các giải thưởng danh giá như giải Stalin năm 1946, Huân chương Lenin các năm 1961 và 1966, và giải thưởng Lênin năm 1962. Năm 1954 ông được nhận danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Xôviết, và năm 1976 – danh hiệu Anh hùng lao động Liên Xô. Ông là Viện sĩ danh dự của Viện âm nhạc hoàng gia Anh Quốc, Viện hàn lâm Quốc gia “Santa Cecilia” (Rome), Viện âm nhạc quốc gia Liszt (Budapest).
Gilels vô cùng nổi tiếng với kỹ thuật điêu luyện và phong cách bốc lửa. Dù các tác phẩm nhạc cổ điển Đức - Áo, đặc biệt là Beethoven, Brahms và Schumann luôn là đỉnh cao trong sự nghiệp của Gilels, nhưng ông cũng toả sáng với Scarlatti, Bach và các tác giả cổ điển cuối thế kỷ 19, đầu thế kỉ 20 như Debussy, Bartók và Prokofiev.
Gilels được coi là một trong những nghệ sĩ piano suất sắc nhất mọi thời đại. Danh mục các tác phẩm mà ông biểu diễn vô cùng rộng lớn, bao gồm gần như toàn bộ các tác phẩm dành cho piano từ Bach và Scarlatti cho đến các nhạc sĩ thế kỷ 20. Các đỉnh cao về trình diễn có thể kể các nhạc phẩm của Liszt, đặc biệt bản âm các fantasia theo chủ đề từ opera “La nozze di Figaro” (Mozart) được coi như một sự kiện gây chấn động, các nhạc phẩm của Saint-Saens, Debussy, Ravel, Tchaikovsky, Rachmaninov, Scriabin, Prokofiev, Shostakovich và Vainberg. Ông từng biểu diễn và ghi âm các tác phẩm của Kabalevsky, Pulenka, Vladigerov. Chiếm vị trí đặc biệt trong danh mục các tác phẩm ông biểu diễn là Beethoven, những năm cuối đời ông thực hiện ghi âm tất cả các sonata của Beethoven, nhưng đáng tiếc đã không kịp thực hiện trọn vẹn dự định của mình.
Gilels qua đời đột ngột sau một lần khám sức khoẻ ở Moscow ngày 14 tháng 10 năm 1985, trước sinh nhật lần thứ 69 của mình 5 ngày, để lại một công trình ghi dở dang về các sonata dành cho piano của Beethoven theo đơn đặt hàng của hãng đĩa hát Deutsche Grammophon (chỉ thu được 29 sonata). Sviatoslav Richter, người bạn thân biết rất rõ về con người Gilels khẳng định ông qua đời do lỗi bất cẩn của các bác sĩ đã thực hiện việc khám sức khoẻ cho Gilels.
Tykva và Apomethe (tổng hợp)
Nguồn:
- http://www.alefmagazine.com
- http://www.eleven.co.il
- http://www.prazdniki.ru
- http://www.prokofiev.org
- http://www.answers.com
The seasons (Bốn mùa)
“Bốn mùa” là tên một tổ khúc gồm 12 tiểu phẩm viết cho cho piano Op. 37b của nhà soạn nhạc vĩ đại người Nga Peter Ilyich Tchaikovsky.
"Bốn mùa" của Tchaikovsky – một kiểu nhật ký bằng âm nhạc độc đáo của nhạc sĩ, ghi lại những những bức tranh thiên nhiên, những mảnh cuộc sống và những cuộc gặp gỡ làm ông xúc động. Sau này M.I. Tchaikovsky, em ruột nhạc sĩ, nhớ lại: “Hiếm có người yêu cuộc sống như Peter Ilyich. Mỗi ngày đều có ý nghĩa riêng biệt đối với ông, và cứ mỗi ngày trôi qua ông lại cảm thấy buồn với ý nghĩ mọi điều ông từng trải qua trong ngày hôm đó đã trở thành quá khứ mà không để lại một dấu vết nào”.
Tổ khúc “Bốn mùa” là một trong những tuyệt tác âm nhạc của Tchaikovsky tràn đầy thi cảm, tình yêu cuộc sống .Trong các tiểu phẩm này Tchaikovsky đã vẽ nên những bức tranh phong cảnh với những khoảng không vô biên của những cánh đồng Nga, các phong tục tập quán ở nông thôn, các bức tranh đời sống thị thành ở Peterburg, những cảnh sinh hoạt âm nhạc của người dân Nga thời kỳ đó.Tác phẩm của Tchaikovsky được xuất bản với 12 đề từ, là những bài thơ nhỏ của các thi sĩ Nga:
Bên lò sưởi - Tháng giêng
A.C. Pushkin
“Màn đêm êm ái buông
Trên góc nhỏ thanh bình
Lò sưởi dần lụi tắt
Mặc cây nến lung linh.”
Lễ Tiễn mùa đông - Tháng hai
P.A. Viazemski
“Lễ Tiễn mùa đông sắp đến rồi
Tưng bừng bàn tiệc mở khắp nơi.”
Chim sơn ca - Tháng ba
A.N. Maikov
“Ngoài đồng hoa dại lả lơi,
Nắng vàng sóng sánh khắp bầu trời,
Chim sơn ca báo xuân đến sớm
Lảnh lót trong màu xanh chơi vơi.”
Hoa xuyên tuyết - Tháng tư
A. N. Maikov
"Nở xanh nhạt mỏng manh
Hoa xuyên tuyết - nhẹ như làn gió
Thoáng qua vừa đủ
Thổi bay bông tuyết cuối cùng.
Giọt lệ cuối cho khổ đau dĩ vãng.
Hoa bẽn lẽn ước mơ
Về hạnh phúc đang chờ..."
Đêm trắng - Tháng năm
A.A. Fet
“Đêm đẹp sao !
Vạn vật đều hạnh phúc !
Cảm ơn người, miền đất trắng nửa đêm!
Từ vương quốc của giá băng, bão tuyết
Tháng năm về trong veo, lồng ngực căng tràn!"
Khúc hát người chèo thuyền - Tháng sáu
A.N. Plesheev
"Nào ta lên bờ thôi,
Dưới chân ta những con sóng nhỏ
Đang chờ dịu dàng hôn.
Và trên đầu ta chỉ còn
Những vì sao buồn bí hiểm"
Bài ca cắt cỏ - Tháng bảy
A.V. Koltsov
"Thôi nào hãy vươn vai,
Thôi nào dang thẳng cánh
Làn gió giữa trưa ơi,
Phả hương cỏ nồng nàn vào mặt!"
Mùa gặt - Tháng tám
A.V. Koltsov
“Trên đồng cả nhà ta vung hái
Cắt ngang thân lúa mạch cao cao!
Từng bông nặng trĩu hạt
Xếp thành lượm đi nào!
Rồi thâu đêm suốt sáng
Vang tiếng xe về làng”
Đi săn - Tháng chín
A.S.Pushkin
“Lên đường, lên đường,
tiếng tù và vang vang:
Người và chó sẵn sàng;
Mới hửng sáng người đã trên lưng ngựa
Lũ chó kéo căng dây cương”
Bài ca mùa thu - Tháng mười
A.K. Tolstoi
“Mùa thu lá rụng khắp vườn nghèo
Nhuộm vàng cả gió cuốn bay theo...”
Trên xe tam mã - Tháng mười một
N.A.Nhecrasov
“Đừng nhìn đường rầu rĩ thế em yêu,
Đừng cúi nhìn vết xe tam mã.
Trước con đường vạn dặm
Em đừng mang theo nỗi khắc khoải trong tim.”
Hội mùa đông - Tháng chạp
N.A.Nhecrasov
“Chiều muộn Hội mùa đông
Đám con gái má hồng
Cởi giầy ném ra ngõ
Xem hướng đi lấy chồng.”
Sự xuất hiện của các tiểu phẩm “Bốn mùa" có liên quan trực tiếp đến quan hệ của Tchaikovsky với gia đình Bernard, những người chuyên nghề xuất bản nhạc phẩm và tạp chí “Nouvellist” của họ. Tạp chí được thành lập năm 1842. Người chủ gia đình là Matvei Ivanovich Bernard (1794-1871), người sáng lập công ty xuất bản âm nhạc và tạp chí “Nouvellist”, đồng thời cũng là một nhạc công piano kiêm nhà soạn nhạc. Người thừa kế và nối tiếp sự nghiệp của ông là con trai Nikolai Matveevich (1844-1905), cũng là một nhạc công nổi tiếng, và tổng biên tập tạp chí là Alexander Ivanovich(1816-1901), em ruột ông Matvei, cũng là một nhạc công kiêm nhà soạn nhạc nổi tiếng. Tạp chí “Nouvelist” giới thiệu với công chúng các tác phẩm mới của các nhà soạn nhạc Nga, các nhạc công nghiệp dư và cả các tác phẩm nước ngoài. Ngoài các bản ký âm, tạp chí còn giới thiệu các thông tin liên quan đến cuộc sống âm nhạc của nước Nga, Tây Âu và Mỹ.
Tchaikovsky cộng tác với “Nouvellist” từ năm 1873 với một vài bản romance. Lý do Tchaikovsky sáng tác các tiểu phẩm “Bốn mùa” có lẽ là bức thư đặt hàng của chủ bút tạp chí “Nouvellist” N.M. Bernard (ngày nay không còn giữ được tài liệu này) vào tháng 11 năm 1875. Tuy vậy, nội dung của nó dễ được biết qua bức thư trả lời của nhà soạn nhạc đề ngày 24 tháng 11 năm đó: “Tôi đã nhận được thư của ngài. Tôi rất cảm ơn ngài về số tiền nhuận bút rất cao mà quý báo sẵn sàng trả. Tôi sẽ cố gắng để ngài hài lòng và bản thân không phải xấu hổ. Tôi sẽ gửi cho ngài tiểu phẩm đầu tiên sớm nhất có thể được, mà cũng có thể gửi ngay một lần 2 hoặc 3 tiểu phẩm. Nếu như không có gì trở ngại công việc sẽ kết thúc nhanh chóng: Hiện tôi đang rất có hứng sáng tác các tiểu phẩm cho piano. Tchaikovsky của ngài. Tất cả các đề từ của ngài tôi sẽ giữ lại”. Như vậy ta có thể hiểu tên gọi của các tiểu phẩm - đồng thời cũng là chủ đề các tiểu phẩm đó là do chủ bút tạp chí đề nghị.
Tạp chí “Nouvellist” số ra tháng 12 năm 1875 đã in thông báo cho các bạn đọc thường xuyên đặt mua tạp chí về việc trong năm tới sẽ xuất bản các tiểu phẩm mới của nhạc sĩ Tchaikovsky và tên các tiểu phẩm tương ứng với mỗi tháng trong năm, hoàn toàn trùng với các nhan đề mà nhà soạn nhạc về sau sẽ viết trong bản thảo viết tay của mình.Ta còn lại rất ít thông tin về quá trình sáng tác những tiểu phẩm này, chỉ biết rằng, vào thời điểm bắt đầu làm việc từ cuối tháng 11 năm 1875, Tchaikovsky sống ở Matscơva. Ngày 13 tháng 12 năm 1875 ông viết cho N.M.Bernard: “Sáng sớm nay, mà cũng có thể là từ hôm qua tôi đã gửi cho ông qua bưu điện 2 tiểu phẩm đầu tiên. Tôi gửi chúng cho ông mà không tránh khỏi hồi hộp: có thể ông thấy chúng quá dài và không hay ho gì. Mong ông hãy cho tôi biết các nhận xét thật lòng của ông, để tôi có thể viết các tiểu phẩm tiếp theo có tính đến các nhận xét đó. Nếu như tiểu phẩm thứ 2 chưa đạt, xin ông hãy cho tôi biết. Nếu như ông muốn tôi viết lại "Lễ Tiễn mùa đông", xin ông đừng khách sáo, hãy cho tôi biết điều đó và hãy tin rằng tôi sẽ viết cho ông tiểu phẩm khác, đúng hẹn, tức là trước ngày 15 tháng giêng. Ông trả cho tôi khoản nhuận bút lớn khủng khiếp đến mức có quyền đòi hỏi bất cứ sự thay đổi, thêm bớt, rút ngắn hay viết lại"... Các tiểu phẩm đều làm N.M. Bernard thoả mãn, vì chúng đều được xuất bản theo đúng kế hoạch đã định trước và chính xác như bản viết tay của tác giả.Các tiểu phẩm "Bốn mùa" khi được xuất bản trên tạp chí "Nouvellist" đều có một thi phẩm nhỏ làm đề từ. Hai trong số đó (tiểu phẩm số 1 và số 3), căn cứ vào nét chữ, được chính N.M. Bernard viết tay vào bản thảo. Ông Bernard vốn là một người rất am hiểu về thi ca và văn học Nga, thậm chí ông cũng sáng tác một vài tác phẩm. Dường như chính ông là tác giả của sáng kiến đưa các đề từ bằng thơ này vào các tiểu phẩm của Tchaikovsky. Nhạc sĩ có biết trước về các đề từ này không, và có cùng với Bernard chọn thơ không, ngày nay chúng ta không được biết, tuy nhiên, các đề từ đó được in trong tất cả các lần xuất bản sau này khi Tchaikovsky còn sống, và điều đó khiến chúng ta có thể tin chắc Tchaikovsky biết và chấp nhận các đề từ đó.
Nhan đề các tiểu phẩm được định trước, nhưng Tchaikovsky đã chủ động đưa thêm nhan đề phụ -- đó là tiểu phẩm thứ 8 - Mùa gặt, có thêm tên Scherzo, còn số 12 - Waltz. Những nhan đề phụ này được giữ nguyên trong các xuất bản phẩm của Bernard, nhưng trong các xuất bản phẩm sau này của P.I. Yurgenson thì không còn nữa. Tên chung của 12 tiểu phẩm "Bốn mùa" xuất hiện vào cuối năm 1876, trong một tuyển tập cả 12 tiểu phẩm, sau khi tất cả các tiểu phẩm đã lần lượt được công bố trên tạp chí "Nouvellist", và sau đó xuất hiện trong tất cả các lần xuất bản sau, với các nhan đề phụ hơi khác nhau.
Quá trình chuẩn bị cho việc xuất bản các tiểu phẩm trên tạp chí "Nouvellist" bắt đầu vào ngày 13 tháng 12 năm 1875, khi Tchaikovsky gửi đến Peterburg hai tiểu phẩm đầu tiên, căn cứ vào một bức thư của nhà soạn nhạc. Tạp chí ra vào ngày 1 hàng tháng. Các tiểu phẩm của Tchaikovsky mở đầu mỗi số, trừ một ngoại lệ - số tháng 9, vở nhạc kịch của V.I. Glavach mở đầu cho số này. Cũng trong số tháng 9 xuất hiện thông báo tặng cho bạn đọc thường xuyên của tạp chí một tuyển tập tất cả 12 tiểu phẩm của Tchaikovsky. Trên bìa của ấn phẩm này có in 12 tranh nhỏ và nhan đề "Bốn mùa".
Người ta không còn giữ được chứng cứ về lần lần đầu tiên công diễn trọn vẹn 12 tiểu phẩm, về các buổi công diễn ra mắt từng tiểu phẩm riêng biệt cũng như không giữ được bất kỳ ý kiến phản hồi nào của bạn đọc. Tuy nhiên, chỉ một thời gian rất ngắn sau khi được công bố, tổ khúc "Bốn mùa" đã trở nên rất được ưa chuộng, và sau đó trở thành một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của nhạc Nga dành cho piano.
“Bên lò sưởi” - Tháng giêng
Trong những tối mùa đông dài, các gia đình Nga thường tập trung bên lò sưởi. Trong các căn nhà gỗ ở nông thôn đó là nơi phụ nữ làm ren, kéo sợi hay dệt vải, và họ vừa làm vừa hát những bài ca trữ tình buồn buồn. Trong các gia đình quý tộc bên lò sưởi là nơi để các thành viên gia đình đọc sách, trò chuyện và chơi nhạc. Tiểu phẩm “Bên lò sưởi” vẽ nên một bức tranh nhỏ với tâm trạng mơ mộng và man mác buồn.Phần đầu của tiểu phẩm xây dựng trên một chủ đề (theme) rất gợi cảm, gần như ngữ điệu của giọng người. Nó vang lên giống như những lời trò chuyện ngắn, chậm rãi, với những khoảng dừng và trong tâm trạng ưu tư trầm ngâm sâu lắng. Trạng thái tình cảm này có thể thấy trong những bức thư của Tchaikovsky: “Đó là cái tình cảm buồn trầm tư thường xuất hiện vào buổi tối, khi người ta ngồi một mình cô đơn, mệt mỏi vì những công việc ban ngày. Muốn cầm lấy cuốn sách mà sách cứ tự rơi khỏi tay lúc nào. Những hồi tưởng bất tận tràn về. Và buồn vì ta đã trải qua nhiều thế, nhưng tất cả đã trở thành quá khứ. Hồi tưởng về thời thanh xuân thật dễ chịu. Và tiếc nuối về quá khứ, và không còn muốn bắt đầu lại cuộc đời mình. Cuộc sống làm ta mệt mỏi. Phút nghỉ ngơi để nhìn lại quá khứ thật dễ chịu. Ta cảm thấy nỗi buồn nhẹ nhàng và thật ngọt ngào khi chìm vào những hồi tưởng về quá khứ”. Phần hai của tiểu phẩm sôi nổi hơn, nhưng cũng dựa trên những motive ngắn với những nét lướt (passage) gợi nhớ đến tiếng ngân rung của đàn harp. Phần ba trở lại giống với phần một với sự bổ sung và kết thúc cả tiểu phẩm với giai điệu lặng dần một cách rất riêng, vẫn với tiếng ngân của đàn harp. Âm nhạc như tan dần và bức tranh cảm xúc cũng dần dần biến mất.
"Lễ Tiễn mùa đông" - Tháng hai
Lễ Tiễn mùa đông, hay còn gọi là tuần Tiễn mùa đông, là tuần lễ hội diễn ra trước Tuần Đại trai. Trong tuần Tiễn mùa đông người ta tổ chức vui chơi tưng bừng với các trò chơi vui tưởng như không còn giới hạn, những cuộc dạo chơi trên xe ngựa và nhiều thú vui khác nữa. Nhà nhà làm bánh tráng blin, món ăn đã bén rễ trong cuộc sống của người Nga từ thuở xa xưa. Lễ hội Tiễn mùa đông trộn lẫn những nét riêng của nghi thức tiễn mùa đông của đa thần giáo sơ khai và phong tục đón mùa xuân của Thiên chúa giáo, diễn ra trước tuần Đại trai và lễ hội tôn giáo tiếp theo sau Đại trai là lễ Phục sinh.Lễ Tiễn mùa đông là bức tranh du xuân, những thời điểm náo nhiệt nhất của cuộc vui trong tiếng nhạc rộn ràng của đám đông đang đi dạo, vang vọng tiếng các nhạc cụ truyền thống. Tiểu phẩm như sự tổng hợp các bức tranh nhỏ, một kiểu kính vạn hoa trong đó các hoạt cảnh liên tiếp thay đổi cho nhau, nhưng luôn luôn quay lại chủ đề đầu tiên. Với nhịp điệu như ngắt quãng, hơi thô nhám, Tchaikovsky vẽ nên một bức tranh với những tiếng reo hò vui sướng của đám đông, tiếng giậm chân nhảy múa của những người diện các bộ cánh lễ hội, các trận cười bùng nổ và lẫn trong đó cả tiếng thì thầm bí mật. Âm nhạc vẽ nên một lễ hội dân gian rực rỡ sắc màu.
"Chim sơn ca" - Tháng ba
Chim sơn ca là loại chim sống trên đồng nội, ở Nga chúng được coi như con chim vui báo hiệu mùa xuân. Tiếng hót của nó gắn với mùa xuân đến, vạn vật bừng tỉnh khỏi giấc ngủ đông dài để bắt đầu một cuộc sống mới. Bức tranh phong cảnh Nga được vẽ bằng những hình ảnh rất đơn giản, nhưng vô cùng gợi cảm.Cơ sở của tiểu phẩm này là hai chủ đề: giai điệu trữ tình đệm bằng hợp âm (accord) rất khiêm tốn, và chủ đề thứ hai, cũng tương tự như vậy, nhưng với những hơi thở phóng khoáng và những cú thăng hoa cao vút. Hai chủ đề gắn kết và trộn lẫn với nhau một cách rất hài hoà, thể hiện rất nhiều sắc thái tình cảm – mơ mộng, buồn và tươi sáng. Sự hoà trộn hài hoà và phổ rộng cảm xúc như vậy mang lại sức quyến rũ của cả tiểu phẩm. Cả hai chủ đề có chung những yếu tố gợi nhớ đến tiếng hót rung vang của chim sơn ca trong bài hát mừng xuân của nó. Chủ đề đầu tiên như một cách tạo khung đóng cho chủ đề thứ hai, phát triển rộng hơn. Tiểu phẩm chấm dứt bằng âm hưởng tiếng hót chim sơn ca dần tắt.
"Hoa xuyên tuyết " – Tháng tư
Người Nga gọi loại hoa đồng nội nở rất sớm vào mùa xuân, ngay khi tuyết vừa bắt đầu tan, là hoa xuyên tuyết. Nó mong manh nở tím nhạt hay trắng ngay sau những cơn lạnh tê tái của mùa đông vừa chấm dứt, thiên nhiên như không còn sức sống. Đó là loại hoa đồng nội rất được yêu chuộng ở Nga, nó được coi như biểu tượng của sự hồi sinh trong thiên nhiên, và trở thành đề tài cho rất nhiều các nhà thơ Nga.Tiểu phẩm “Hoa xuyên tuyết” mang nhịp điệu như một bản waltz, toàn bộ tác phẩm thể hiện những cao trào của cảm xúc. Đó là nỗi xúc động trước sự hồi sinh của vạn vật khi xuân đến, cùng với nó là hy vọng lạc quan giấu kín tận đáy sâu tâm hồn về tương lai, và sự chờ đợi điều gì chưa rõ. Tiểu phẩm chia làm ba phần. Phần đầu và phần ba lặp lại nhau, nhưng phần thứ hai cũng không có một sự tương phản về hình tượng rõ rệt, nó chỉ khác các phần khác ở sự thay đổi trạng thái tình cảm, chính xác hơn là các sắc thái tinh tế của một cảm xúc mà thôi. Cao trào cảm xúc trong phần kết của tác phẩm được duy trì đến tận nốt nhạc cuối cùng.
"Những đêm trắng" - Tháng năm
Đêm trắng là cách gọi các đêm tháng năm ở miền Bắc Nga, nơi mà trong tháng này đêm cũng sáng gần như ngày. Những đêm trắng ở Peterburg, thủ đô Nga, luôn luôn được kỷ niệm với những cuộc dạo đêm đầy chất thơ và tràn đầy tiếng hát. Hình ảnh những đêm trắng được rất nhiều hoạ sĩ thể hiện trên các tác phẩm của mình, và được ngợi ca không kém trong thi ca. Nhà văn vĩ đại Fedor Dostoevsky có một tiểu thuyết nhan đề "Những đêm trắng".Âm nhạc trong tiểu phẩm này thể hiện sự thay đổi rất phức tạp của cáctâm trạng hoàn toàn trái ngược: những suy tư đắng cay được thay dần bởi những phút lặng ngọt ngào của tâm hồn ngập tràn trong cảm phục trước khung cảnh thiên nhiên hiếm có, đầy chất lãng mạn trong thời kỳ đêm trắng. Tiểu phẩm gồm hai phần mở đầu và kết, đó là bức tranh phong cảnh bằng âm nhạc, và hình tượng chủ đạo của nó là những đêm trắng. Phần mở đầu bao gồm những giai điệu ngắn, như nhịp thở, gợi cho ta nhớ đến cái tĩnh lặng trên đường phố Peterburg vào những đêm trắng, đến tâm trạng cô đơn, đến ước mơ hạnh phúc. Phần thứ hai tâm trạng có đôi chút đổi khác, trở nên thiết tha hơn, và ngắt quãng hơn, những tình cảm dâng trong tâm hồn đến cao trào, đến mức trở thành hân hoan mừng vui. Sau phần thứ hai này là một bước chuyển ngắn sang phần kết, khép lại cả tiểu phẩm. Tâm trạng trở lại ôn hoà, và trước thính giả bức tranh những đêm trắng miền bắc trong thành phố Peterburg với vẻ đẹp thâm nghiêm lại dần hiện ra.Tchaikovsky rất gắn bó với Peterburg. Tại đây ông đã trải qua thời niên thiếu, được công nhận là một nhạc sĩ, chính nơi đây ông sống qua những phút giây thành công trong sự nghiệp, và cũng chính tại đây ông đã giã từ cuộc sống. Phần mộ của ông cũng ở đây.
"Khúc hát người chèo thuyền" - Tháng sáu
Barcarola là một từ tiếng Italia chỉ khúc hát của người chèo thuyền trong âm nhạc dân gian. Các khúc ca này đặc biệt thịnh hành ở Venise, thành phố trên bờ những con kênh, và phương tiện giao thông chính là những con thuyền đặc chủng đi lại trên các con kênh này trong giai điệu trầm bổng rất đặc trưng của các bài hát. Nhịp điệu và nhạc đệm của chúng mô phỏng những động tác chèo nhịp nhàng và tiếng mái chèo khua nước. Các bài hát này trở nên rất phổ biến trong nền âm nhạc Nga đầu thế kỷ XIX, và trở thành một phần không thể thiếu của thanh nhạc trữ tình Nga, đi vào thi ca Nga và cả hội hoạ."Khúc hát người chèo thuyền" là một tiểu phẩm nữa vẽ nên phong cảnh Peterburg trong tổ khúc "Bốn mùa". Thậm chí ngay cả tên gọi của nó cũng làm người ta nhớ đến những con kênh đào và những dòng sông của Thủ đô phương Bắc. Giai điệu phóng khoáng của phần đầu tiểu phẩm vang lên ấm áp và gợi cảm, khiến người nghe như cảm thấy dường như cũng bị "lắc lư" theo nhạc đệm gợi nhớ đến tiếng ngân của ghita và măng đô lin trong các bản barcarola truyền thống. Phần tiếp theo tâm trạng thể hiện trong âm nhạc trở nên vui tươi hơn và vô lo hơn, người nghe dường như thấy cả những nhịp chèo khua nước nhanh và vang. Nhưng rồi sau đó tất cả lại trở về bình ổn, và giai điệu rất đẹp, khiến người ta cảm thấy yên lòng, cùng với phần đệm có cả giọng thứ réo rắt. Dường như đó là hai giọng song ca. Tiểu phẩm kết thúc bằng những nốt nhạc tắt dần - con thuyền đã đi xa, và cùng với nó những giọng ca cùng với tiếng sóng vỗ cùng dần tắt.
"Bài ca cắt cỏ" - Tháng bảy
Những người cắt cỏ phần lớn là đàn ông, ra đồng cắt cỏ từ mờ sương. Bằng những động tác vung tay nhịp nhàng đều đặn, và thường là theo đúng nhịp một bài dân ca lao động nào đó mà người ta thường hát trong khi làm việc. Những bài dân ca như thế tồn tại ở nông thôn Nga từ xa xưa. Người ta hát trong khi cắt cỏ rất đều và vui. Công việc cắt cỏ cũng là một đề tài quen thuộc trong nghệ thuật Nga. Nhiều thi sĩ, hoạ sĩ đã sáng tác về đề tài này. Còn các bài hát dân ca thì vô số."Bài ca cắt cỏ" là một bức tranh bằng nhạc về cuộc sống lao động ở nông thôn. Giai điệu chủ đạo chứa những yếu tố gợi nhớ đến các bài dân ca. Tiểu phẩm gồm ba phần, về tính chất chung khá giống nhau. Phần đầu và phần cuối về bản chất đúng là bài ca của người nông dân cắt cỏ, cánh tay vung hái nhịp nhàng, mạnh mẽ, hát vang bài ca vui vẻ tràn đầy nghị lực, một bài hát có giai điệu và nhịp điệu rõ ràng. Trong phần thứ hai xuất hiện những hợp âm thoáng qua, có đôi chút gợi nhớ đến âm thanh của những nhạc cụ truyền thống của Nga. Đoạn kết trên nền bè đệm bài ca của người cắt cỏ vang lên một lần nữa, dường như anh ta đã trở lại với công việc của mình thật sung sức sau một khoảng thời gian nghỉ ngơi ngắn. Tchaikovsky rất yêu mùa hè ở nông thôn, ông viết trong một bức thư : “Vì sao thế? Vì sao một cảnh rất bình thường trong đời sống của người Nga, vì sao một cuộc dạo chơi mùa hè ở nông thôn Nga trên những cánh đồng, trong những khoảng rừng, trên thảo nguyên... thường gợi nên trong tôi những cảm xúc như thể tôi đang nằm dài trên mặt đất trong một tình trạng gần như bất lực vì làn sóng tình yêu thiên nhiên đang tràn đến”
"Mùa gặt" - Tháng tám
Mùa gặt là mùa thu hoạch lúa mì chín trên đồng. Mùa gặt trong cuộc sống của nông dân Nga là một thời gian cực kỳ quan trọng. Cả gia đình làm việc cật lực ngoài đồng từ sáng sớm đến tối mịt, và tất nhiên không thể thiếu các bài hát.“Mùa gặt” là một bức tranh lớn về cuộc sống nông thôn. Trong bản thảo của mình nhạc sĩ có viết thêm “scherzo”. Thực tế, đó là một tiểu phẩm mở dành cho piano vẽ nên một bức tranh hoàn mỹ về cuộc sống đời thường của người nông dân. Trong đó ta thấy sự nhộn nhịp, cao trào đặc trưng của một công việc tập thể rất lớn của những người nông dân. Ở đoạn hai, bức tranh lao động được thay thế bằng bức tranh phong cảnh nông thôn trữ tình, đặc trưng cho phong cảnh miền Trung Nga, nơi đang diễn ra cảnh gặt hái. Và âm nhạc trong đoạn này khiến người ta liên tưởng đến những dòng viết của nhạc sĩ: “Tôi không thể diễn tả hết sức quyến rũ của nông thôn và phong cảnh Nga đối với bản thân mình”
"Đi săn" - Tháng chín
Đi săn là từ chỉ hoạt động kinh tế - việc săn bắt các con thú hoang, nhưng từ “đi săn” trong tiếng Nga lại có chung gốc với từ chỉ nguyện vọng, ước muốn, sự tự nguyện, lòng khát khao một cái gì đó. Săn bắn là một chi tiết cũng rất đặc trưng của cuộc sống Nga thế kỷ XIX, và là đề tài của nhiều tác phẩm văn học nghệ thuật lớn. Ta có thể nhắc đến những trang viết mô tả cảnh đi săn trong nhiều tác phẩm của L. Tolstoi, trong các truyện vừa và truyện ngắn của Turgenev, những bức tranh của các hoạ sĩ Nga. Đi săn ở Nga luôn là lĩnh vực của những con người khát khao, mạnh mẽ, say mê, thường một cuộc săn diễn ra hết sức ồn ào, vui vẻ, với tiếng tù và và rất nhiều chó. Đi săn trong các trang ấp của giới quý tộc thế kỷ XIX thường được tổ chức vào mùa thu, và nó không còn đơn thuần là hoạt động kinh tế, mà đã mang nặng tính giải trí, đòi hỏi những người tham gia lòng dũng cảm, sức mạnh, sự khéo léo, tính cách sôi nổi và sự nhiệt tình.
"Bài ca mùa thu" - Tháng mười
Mùa thu ở Nga là mùa được ca ngợi và mô tả nhiều nhất trong văn học nghệ thuật. Các nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ và nhạc sĩ có vô vàn các tác phẩm về đề tài này. Nó thể hiện vẻ đẹp hiếm có của phong cảnh thiên nhiên Nga được mùa thu khoác cho bộ cánh vàng lộng lẫy, xen lẫn với vô vàn các sắc màu khác. Nhưng cũng có những thời điểm thu hoàn toàn khác – mùa buồn, bởi đó là mùa chết của thiên nhiên, gắn liền với nỗi buồn về mùa hè đã qua, mà mùa hè là biểu tượng của cuộc sống. Cái chết của vạn vật vào thời điểm trước khi mùa đông tới là một trong những trang buồn nhất, bi thảm nhất trong mùa thu.“Bài ca mùa thu” chiếm một vị trí hết sức đặc biệt trong tổ khúc. Bởi màu sắc bi kịch của mình, nó trở thành trung tâm, thành đoạn tổng kết tất cả mọi điều đã được kể về cuộc sống Nga và thiên nhiên Nga. Tháng mười với “Bài ca mùa thu” là bài ca về cái chết của thiên nhiên, của sự sống.Trong giai điệu tràn đầy những nốt buồn, như những tiếng thở dài. Đoạn hai xuât hiện đôi chỗ cao trào, như sự thể hiện hy vọng vào cuộc sống và cuộc vật lộn để tự bảo vệ mình. Nhưng phần ba, nhắc lại phần đầu, trở lại với những tiếng thở dài buồn bã, và kết thúc bằng sự héo tàn vô vọng, cái chết trọn vẹn. Dòng nhạc cuối cùng của tiểu phẩm được tác giả viết “morendo” - tức là “chết lịm”, không còn một hy vọng nhỏ nhoi nào cho sự hồi sinh, cho sự xuất hiện cuộc sống mới. Toàn thể tiểu phẩm giống như một bức phác thảo trữ tình tâm lý, trong đó phong cảnh và tâm trạng con người đã hoà nhập làm một. Nhạc sĩ đã viết : “Ngày ngày tôi đi dạo rất xa, cố tìm cho mình một góc nhỏ ấm áp trong rừng và tận hưởng bầu không khí thu tràn ngập mùi lá rụng, sự yên tĩnh và cái quyến rũ của phong cảnh mùa thu với những sắc màu đặc trưng của nó”.
"Trên xe tam mã" - Tháng mười một
Xe tam mã là loại xe thường thấy ở Nga với ba con ngựa đóng chung một ách. Nó thường được trang trí bằng những cái chuông nhỏ, reo vui theo nhịp xe chạy, tiếng trong như tiếng bạc. Người Nga rất thích các cuộc dạo chơi trên xe tam mã, và đó là đề tài cho không ít các bài hát dân ca. Sự xuất hiện của tiểu phẩm “Trên xe tam mã” thường được đánh giá như niềm hy vọng vào cuộc sống, mặc dù nhìn chung âm nhạc ở đây khá buồn. Những con đường như dài vô hạn trên các khoảng rộng vô biên của nước Nga, bộ ba con ngựa trở thành một kiểu biểu tượng cho cuộc sống vẫn đang tiếp diễn. Tháng mười một ở Nga tuy theo lịch vẫn còn là mùa thu, nhưng thực tế thời tiết đã lạnh theo kiểu mùa đông rồi. “Những cơn lạnh nối tiếp nhau, dù mặt trời vẫn còn sưởi ấm đôi chút. Cây cối nằm dưới lớp tuyết màu trắng bạc, và bức tranh phong cảnh mùa đông đó đẹp đến mức khó có thể tả hết bằng lời” – chính Tchaikovsky đã viết như vậy. Tiểu phẩm bắt đầu với một giai điệu phóng khoáng, gợi nhớ những bài hát dân ca Nga mênh mang, rồi xuất hiện những tiếng vọng buồn, những suy tư buồn, nhưng tiếng chuông ngân rung ngày càng rõ ràng hơn. Tiếng chuông vui vẻ dường như tạm thời che lấp và lấn át tâm trạng buồn kia, nhưng rồi giai điệu đầu tiên đã xuất hiện trở lại - lần này là bài hát của người đánh xe, được đệm bằng những chiếc chuông. Những nốt nhạc bắt đầu từ từ tắt, rồi tan hẳn khi chiếc xe đã đi xa.
"Hội mùa đông" -Tháng chạp
Hội mùa đông là khoảng thời gian giữa hai ngày lễ Thiên chúa giáo lớn - từ Giáng sinh đến lễ Ba vua. Đó là lễ hội dân gian có các yếu tố kết hợp giữa các nghi lễ của Thiên chúa giáo và đa thần giáo sơ khai bản địa. Trong hội mùa đông những đoàn người hoá trang đi đến các nhà, múa hát vui vẻ, các cô gái có nhiều cách để bói về tương lai của mình. Mọi gia đình đều vui chơi tưng bừng. Đoàn người hóa trang trong các trang phục ngộ nghĩnh độc đáo, hát các bài dân ca có nội dung chuyên về ngày hội này, và cầm tay nhau nhảy khorovod (một điệu nhảy dân gian Nga). Chủ nhà đãi họ bằng các thức ăn ngon và tặng quà.Tiểu phẩm cuối cùng của tổ khúc “Bốn mùa” có tiêu đề phụ do chính tay nhạc sĩ viết trong bản thảo là “Waltz”, và không phải là tình cờ ông viết tiểu phẩm này theo phong cách đó. Thời đó waltz là điệu nhảy rất phổ biến, tượng trưng cho các ngày lễ gia đình. Giai điệu chủ đạo của tiểu phẩm được viết theo phong cách âm nhạc đời thường, với từng đoạn waltz xen kẽ. Tiểu phẩm kết thúc bằng một đoạn nhạc waltz êm dịu, một ngày hội của gia đình đầm ấm xung quanh cây thông Giáng sinh. Và cả tổ khúc cũng kết thúc êm đềm như vậy.
Tykva (dịch)
Nguồn : bài viết của tác giả P.E.Vaidmanhttp://www.tchaikov.ru
Opera Boris Godunov
Music: Modest Mussorgsky
Libetto: Modest Mussorgsky(theo bi kịch cùng tên của A.C. Pushkin)
Công diễn lần đầu: 8 tháng 2 năm 1874
tại Nhà hát Mariinsky thành phố St Peterburg
Nhân vật: Boris Godunov: Bass
Grigory, kẻ tự xưng: Tenor
Marina: Mezzo soprano
Shuisky, công tước: Tenor
Pimen, người chép sử: Bass
Rangony, tu sĩ dòng Tên giấu mặt: Bass
Simpleton, Tiên tri ngây dại: Tenor
Varlaam: Bass
Missail: Tenor
Bối cảnh vở opera xảy ra tại Ba Lan và Nga vào các năm 1598 – 1605
Prologue:
Cảnh 1: Rất nhiều người dân tụ tập tại sân tu viện Novodevichi ngoại thành Moscow. Cảnh sát vung cây gậy tày, yêu cầu mọi người phải quỳ và cầu xin Boris Godunov lên ngôi Sa hoàng. Cha cố Tshelkanov xuất hiện trước công chúng, thông báo: "Con người cao quý không lay chuyển được! Và ngài không muốn nghe đến chuyện lên ngôi!"
Cảnh 2: Tiếng hát của các ca sĩ mù lang thang qua đường vẳng đến. Tựa trên vai những người dẫn đường, họ tiến đến tu viện, phân phát cho những người có mặt các lư hương và kêu gọi mọi người cùng cầu nguyện, xin Boris Godunov lên ngôi, cứu nước Nga.
Màn 1:
Cảnh 1: Đêm trong trai phòng của tu viện Chudovo. Già Pimen, người đã từng chứng kiến rất nhiều các sự kiện, đang chép sử. Tu sĩ trẻ Grigory ngủ trong góc phòng. Nghe vẳng tiếng cầu kinh. Grigory tỉnh giấc, thấy Pimen chưa ngủ, anh ta kể cho già Pimen nghe về giấc mơ bàng hoàng của mình và nhờ già lý giải. Giấc mơ của chàng tu sĩ trẻ tuổi gợi cho Pimen những hồi ức về các vị Sa hoàng đã buộc phải đổi "vương trượng, vương miện, bảo kiếm và ngôi báu" lấy chiếc mũ tu hành. Chết lặng trong tim, Grigory nghe lời kể của vị tiên hiền về vụ giết Thái tử Dmitri. Già Pimen vô tình nói anh ta và Thái tử Dmitri cùng một lứa tuổi, và trong trí não anh ta đã tự vẽ nên cho mình một kế hoạch đầy tham vọng.
Cảnh 2: Nhà trọ gần biên giới Lithuania. Các tu sĩ bỏ trốn là Varlaam, Misail và Grigory xuất hiện. Bà chủ nhà trọ mời họ ăn uống. Những kẻ lang thang uống rượu vang, hát hò và đọc những câu văn vần. Grigory vẫn không vui - ý nghĩ về khả năng tự xưng Thái tử đã chiếm hoàn toàn tâm trí anh ta. Anh ta đang vội tìm đường sang Lithuania và hỏi bà chủ nhà trọ đường đi. Bà chủ cho anh ta hay đường đã bị phong toả - ai đó đang bị truy nã, nhưng vòng phong toả không làm anh ta nản chí. Người phụ nữ tốt bụng kể cho Grigory nghe về cách đi đường tắt. Tiếng gõ cửa đột ngột vang lên, cảnh sát và mõ toà xuất hiện. Họ quan sát các tu sĩ đang ăn uống, tiến đến gần hỏi tên tuổi từng người và từ đâu đến. Họ đưa ra lệnh của Sa hoàng truy nã "kẻ trốn chạy khỏi tu viện Chudovo, tu sĩ thiếu tư cách Grigory dòng họ Otrepiev". Mọi người nghi ngờ chàng thanh niên, nhưng anh ta đã kịp nhảy qua cửa sổ chạy trốn. Mọi người đuổi theo.
Màn 2: Căn phòng lộng lẫy trong lâu đài của Sa hoàng tại Kremlin, Moscow. Công chúa Ksenia than khóc trước chân dung vị hôn phu yểu mệnh của mình. Hoàng tử Feodor đọc sách. Nhũ mẫu thêu ren. Bà cố gắng làm công chúa khuây khoả bằng cách hát các bài hát dân ca, Feodor nghịch ngợm cùng hát với bà. Boris xuất hiện đột ngột. Sa hoàng dịu dàng an ủi con gái, hỏi chuyện con trai về các bài học và khen khuyến khích chàng về các thành tích đạt được trong học tập. Nhưng tất cả những câu chuyện đó không dứt nổi Sa hoàng khỏi các ý nghĩ nặng nề. Đã sáu năm ông ngồi trên ngai vàng, nhưng không cảm thấy tâm hồn thanh thản vì cả nước Nga nghèo đói đang rên xiết. Ông thấy nguyên nhân mọi bất hạnh của con gái và nghèo đói của nước Nga là sự quả báo cho hành động độc ác của mình - giết Thái tử Dmitri. Nhà quý tộc Blizhny xuất hiện, phủ phục chào Sa hoàng và thông báo công tước Vassily Shuisky đang chờ tiếp kiến. Sa hoàng truyền gọi Shuisky và công tước thông báo về sự xuất hiện ở Lithuania một kẻ tự xưng là Thái tử Dmitri. Sa hoàng đòi công tước phải kể trung thực mọi chuyện mà mình biết về vụ giết Thái tử Dmitri khi chàng còn là một đứa trẻ. Công tước với vẻ mánh khoé kể lại mọi chi tiết, và Sa hoàng không chịu nổi sự tra tấn đó: Ông nặng nề ngã xuống ngai vàng - thấp thoáng trong bóng những tháp chuông trước mặt ông như hiển hiện hình bóng Thái tử đã bị giết.
Màn 3:
Cảnh 1: Phòng riêng của tiểu thư Marina Mnishek trong lâu đài Sandomir. Các cô thiếu nữ đang mua vui cho cô chủ bằng các bài hát ca ngợi sắc đẹp của tiểu thư. Nhưng tiểu thư vẫn không hài lòng, vì nàng đã chán nghe các bài ca giả dối. Nàng mơ ước cùng với vị hôn phu - Dmitri Người trả thù lên ngôi báu Vua của các Vua ở Moscow. Tu sĩ dòng Tên Rangony đột ngột xuất hiện ngoài cửa. Ông ta dùng quyền lực của nhà thờ buộc Marina bằng mọi mánh khoé của tình yêu khiến Dmitri - Kẻ tự xưng đấu tranh vì ngôi báu Sa hoàng.
Cảnh 2: Đêm trăng trong vườn, bên đài phun nước. Dmitri - Kẻ tự xưng mơ mộng về Marina. Tu sĩ Rangony lẻn đến, bằng những lời ngọt ngào về sắc đẹp của Marina, hắn moi những lời thú nhận tình yêu đắm say của Kẻ tự xưng đối với tiểu thư Balan kiêu hãnh. Một đám khách khứa ồn ào xuất hiện, họ đang ăn mừng chiến thắng của quân đội Balan trước quân của Godunov. Kẻ tự xưng lẻn ra sau bụi cây tránh mặt. Khi mọi người đã vào hết trong lâu đài, tiểu thư Marina một mình trở lại vườn. Trong duo của hai kẻ yêu nhau lẫn với những những lời trách móc, lời yêu ngọt ngào có cả những âm mưu, những kế hoạch đầy tham vọng.
Màn 4:
Cảnh 1: Moscow. Trên quảng trường trước nhà thờ Vassily Khổ hạnh người dân Moscow tập trung rất đông và bàn tán về những tiếng đồn Dmitri - Kẻ tự xưng đang mang quân đội tiến đến gần biên giới, và những lời nguyền rủa Grigory Otrepiev. Tiên tri ngây dại mang xiềng xuất hiện. Lũ trẻ chạy theo trêu chọc quấy phá và xúc phạm khiến Tiên tri rơi nước mắt. Buổi lễ sáng kết thúc. Đám rước Sa hoàng bước ra khỏi nhà thờ, các nhà quý tộc phân phát của bố thí. Boris Godunov xuất hiện, sau ông là công tước Shuisky và những người khác. Toàn dân quỳ xuống cầu xin Cha Sa hoàng bánh mì. Tiên tri ngây dại than thở với Sa hoàng về các trò nghịch của lũ trẻ và xin ông "hãy chém chúng đi như ngài đã chém Thái tử nhỏ". Dân chúng hoảng loạn trước lời cầu xin của người mất trí, quân cận vệ xông đến bắt nhà Tiên tri. Godunov ngăn cận vệ của mình lại, bỏ đi sau khi đã ngỏ lời xin Tiên tri cầu nguyện cho mình. Nhưng Tiên tri nói ông không thể làm việc đó, vì Đức Mẹ không cho phép cầu phước lành cho Sa hoàng - Sát nhân. Bằng những lời của Tiên tri ngây dại, Sa hoàng đã bị tuyên án.
Cảnh 2: Phòng lớn trong Kremlin. Duma họp kỳ họp bất thường. Công tước Shuisky xuất hiện và kể ông ta tình cờ trông thấy Sa hoàng hoảng loạn vì bóng ma của Thái tử nhỏ, và khi ông ta vừa nhắc lại lời đuổi bóng ma của Sa hoàng thì Godunov xuất hiện. Trấn tĩnh, Godunov ngồi vào ngai vàng. Shuisky xin nhà vua nghe một "người già uyên bác", muốn kể cho ngài nghe một "bí mật vĩ đại". Boris Godunov đồng ý, và già Pimen bước vào. Câu chuyện của già cũng đầy những lời bóng gió ám chỉ vụ giết Thái tử Dmitri một cách hèn mạt. Chưa nghe hết câu chuyện, Sa hoàng quá xúc động đã ngã vào tay các quý tộc. Cảm thấy sự cáo chung của mình sắp đến, ông truyền gọi con trai - Hoàng tử Feodor để dặn dò và chúc phúc truyền ngôi cho con. Vang tiếng chuông tang lễ. Boris Godunov hấp hối.
Cảnh 3: Con đường rừng ở Kromami - một làng nhỏ thuộc vùng biên giới Lithuania. Đám đông người lang thang giải nhà quý tộc Khrutshov bị trói, dọa dẫm ông ta và nói xấu Sa hoàng. Tiên tri ngây dại cũng có mặt trong đám đông, vẫn bị đám trẻ vây quanh. Xuất hiện hai tu sĩ bỏ trốn là Varlaam và Misail, kích động đám đông bằng các chuyện kể về các vụ hành hình và trả thù ở Nga. Họ kêu gọi dân chúng đứng dậy, ủng hộ Sa hoàng Dmitri. Dân chúng hô "Boris phải chết! Boris phải chết!". Các tu sĩ dòng Tên nóng nảy cũng bị kích động. Quân đội của Dmitri - Kẻ tự xưng xuất hiện, và chính Dmitri - Kẻ tự xưng trên lưng ngựa. Ông ta tự tuyên bố mình là Thái tử Nga Dmitri Ivanovich, kêu gọi tất cả mọi người theo ông ta tiến về Moscow, vào Kremlin. Dân chúng tung hô Kẻ tự xưng và đi theo ông ta. Một mình Tiên tri ngây dại ở lại. Khúc ca bi thương của ông báo trước tai hoạ, những giọt nước mắt cay đắng và thời kỳ đen tối...
Hết
"Boris Godunov" là vở opera truyền thống, là bức tranh đa diện về cả một thời đại. Tác phẩm khiến người ta ngạc nhiên về tầm nhìn rộng lớn và các tương phản táo bạo. Các nhân vật được xây dựng với chiều sâu và tâm lý sâu sắc. Âm nhạc với sức rung cảm mạnh mẽ mở ra bi kịch của tình cảnh cô đơn và tuyệt vọng của người ngồi trên ngôi báu, đồng thời mô tả tinh thần đấu tranh và tính cách mãnh liệt của nhân dân Nga theo đường lối cách tân, hoàn toàn mới mẻ.
Prologue gồm hai cảnh. Biểu diễn của dàn nhạc đệm trước khi cảnh thứ nhất bắt đầu thể hiện sự u uẩn và bế tắc bi thương. Chorus "Người bỏ chúng con lại cho ai" vang lên giống như những bài khóc buồn rầu trong dân gian. Lời kêu gọi của cha cố Tshelkalov "Hỡi các con chiên của ta! Con người cao quý không lay chuyển được! Và ngài không muốn nghe đến chuyện lên ngôi!" cùng với nỗi buồn được giấu kín chứa đựng cả sự uy nghiêm trịnh trọng. Trung tâm của cảnh này là độc thoại "Hồn ta bị giày vò" của Boris Godunov - âm nhạc ở đây ngoài tính trọng thể còn chứa đựng cả những yếu tố thể hiện sự tuyệt vọng, không lối thoát.
Cảnh đầu tiên của màn một mở ra sau một phần biểu diễn ngắn của dàn nhạc, trong đó âm nhạc mô tả tiếng bút lông ngỗng của nhà chép sử đưa trên giấy trong cái tĩnh lặng tuyệt đối của trai phòng. Độc thoại nghiệt ngã nhưng bình lặng của Pimen "Thêm một lời cuối" vẽ nên chân dung nghiêm nghị và oai phong của con người từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử lớn trong đời. Câu chuyện của Pimen về các Sa hoàng thấm đẫm tính chất trang trọng, mạnh mẽ. Grigory được xây dựng như một thanh niên tâm lý thất thường, tính cách bốc đồng.
Cảnh hai bao gồm những bức tranh sinh hoạt rất sống động, đặc biệt bài hát của cô gái bán rượu "Em bắt con vịt xám" và bài hát của tu sĩ chạy trốn Varlaam "Chuyện xảy ra trong thành phố Kazan" phổ nhạc các bài thơ dân gian đầy chất phóng khoáng và sức mạnh bản năng, nhất là trong bài hát của Varlaam.
Màn hai mô tả toàn diện chân dung Boris Godunov. Độc thoại "Ta đạt đến đỉnh cao quyền lực" đầy chất bi thương mãnh liệt, và những tình cảm bất an trái ngược. Xung đột trong tâm hồn Boris đạt đến cao trào trong cuộc trò chuyện với Vassily Shuisky, khi mỗi lời nói của nhà quý tộc nham hiểm này đều thể hiện vẻ gian tà và đạo đức giả. Xung đột đó đạt đến căng thẳng cao nhất trong cảnh Sa hoàng nặng nề ngã xuống ngai vàng - thấp thoáng trong bóng những tháp chuông trước mặt ông như hiển hiện hình bóng Thái tử đã bị giết.
Cảnh một của Màn ba bắt đầu bằng chorus với giai điệu rất đẹp của các cô gái "Trên sông Visla trong xanh". Aria của tiểu thư Marina "Mệt và buồn quá" được viết theo nhịp điệu mazurka thể hiện chân dung cô tiểu thư quý tộc Balan kiêu hãnh.
Dàn nhạc đệm bắt đầu cảnh hai vẽ nên bức tranh phong cảnh chiều êm đềm, mơ mộng, tiếp theo đó là những giai điệu lãng mạn và đầy xúc cảm khi Kẻ tự xưng thổ lộ tình yêu. Tiểu cảnh Kẻ tự xưng và Marina được xây dựng trên cơ sở những cảm xúc tương phản và đỏng đảnh, kết thúc bằng duo đầy những tham vọng "Ôi hoàng tử, em xin chàng".
Cảnh một của màn bốn là một bức tranh đầy kịch tính, và cao trào là lúc bài ca nghe như tiếng rên thảm thiết của Tiên tri ngây dại "Trăng lãng du, mèo gào" chuyển thành giai điệu khiến người ta rùng mình vì sức mạnh truyền cảm của chorus "Bánh mì!"
Cảnh hai màn bốn kết thúc bằng cảnh Boris hấp hối. Độc thoại cuối cùng của Sa hoàng "Vĩnh biệt, con trai ta!" trong chất bi tráng chứa những yếu tố chấp nhận và cam chịu.
Cảnh ba màn bốn là một cảnh có tầm cỡ và sức mạnh hiếm có. Chorus mở đầu "Như chim ưng bay trên những tầm cao" viết trên cơ sở giai điệu và lời ca của bài dân ca cùng tên vang lên đầy vẻ nhạo báng và dữ dội. Bài ca của Varlaam và Misail "Mặt trời và mặt trăng lu mờ" trên cơ sở các giai điệu của bylina (Tráng ca - thể loại nghệ thuật dân gian Nga). Cao trào của cảnh này là chorus nổi loạn "chứa đầy chất phóng khoáng và bản năng hoang dã với đoạn hai "Ôi, người là sức mạnh" - giai điệu chorus dân gian Nga được sử dụng một cách táo bạo phóng khoáng, và kết thúc bằng những tiếng thét căm phẫn "Boris phải chết!".
Vở opera kết thúc bằng cảnh chuyển quân trang trọng của Kẻ tự xưng và tiếng khóc bi ai của Tiên tri ngây dại.
Giáo sư ngữ văn V.V. Nikolsky là người đã hướng sự chú ý của Mussorgsky vào bi kịch "Boris Godunov" của Pushkin năm 1868. Chủ đề vở bi kịch này là các sự kiện xảy ra vào đầu thế kỷ XVII, thời kỳ đầy những biến động và bất ổn trong xã hội Nga. Các mâu thuẫn trong xã hội Nga thời kỳ này khiến người ta liên tưởng đến các mâu thuẫn trong xã hội đương đại. Mussorgsky đã tự mình viết libretto trên cơ sở nguyên tác văn học của Pushkin, chỉ bớt một vài cảnh, một vài nhân vật phụ, và thay đổi lời thơ. "Tôi coi nhân dân là một nhân vật vĩ đại, được thổi linh hồn là một tư tưởng thống nhất," - ông viết. - "Đó là nhiệm vụ đặt ra cho tôi và tôi sẽ giải quyết nhiệm vụ đó trong một vở opera".
Khi viết libretto trên cơ sở bi kịch của Pushkin, nhà soạn nhạc cũng tham khảo các nguồn tư liệu lịch sử như "Lịch sử nhà nước Nga" của N.M. Karamzin và nhiều sử liệu khác. Mussorgsky bắt đầu viết nhạc cho vở này từ tháng mười năm 1868. Khi viết xong từng cảnh, nhạc sĩ đã cho trình diễn nội bộ trong nhóm "Khoẻ", mỗi khi họ tụ tập ở nhà riêng của A.C.Dargomyzhsky hoặc L.I. Shestakova, em gái của nhạc sĩ Glinka, và một năm sau thì tổng phổ gồm 4 hồi được hoàn tất, vào mùa thu năm 1870 được nhà soạn nhạc vĩ đại mang tới ban giám đốc nhà hát hoàng gia, nhưng nó không được chấp nhận "để trình diễn trên sân khấu opera Nga". Năm 1871-1872 nhà soạn nhạc đã viết lại vở opera, và hoàn thành bản thứ hai, viết thêm cái kết bằng cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở vùng Kromami, bằng cách đó đưa vào nội dung vở diễn một ánh sáng mới.
Vở opera đã được chỉnh sửa vẫn bị từ chối. Rimsky-Korsakov lý giải nguyên nhân là do tính cách tân trong âm nhạc của Mussorgsky đã khiến hội đồng duyệt vở cảm thấy bị đặt vào bế tắc. Thực tế, ngay trong nguyên tác văn học của Pushkin đã chứa đầy những yếu tố cách tân trong văn học, và nhà soạn nhạc cũng phá vỡ mọi "khuôn vàng thước ngọc", mọi quy định ước lệ cho opera.
Nhà soạn nhạc đã xây dựng một opera - bi nhạc kịch trên cơ sở hoàn toàn ăn khớp giữa âm nhạc và hành động kịch, các nội dung cảnh và chi tiết hóa các mô tả diễn biến tâm lý. Các cách tân của Mussorgsky trong đưa lời nói vào âm nhạc hoàn toàn khác hẳn với các quan niệm và cách hình dung quen thuộc về lời ca trong opera.
Vở opera thiên tài này chỉ được dàn dựng nhờ sự ủng hộ nhiệt thành của các nghệ sĩ tiên phong, nhất là nữ ca sĩ Iu.F.Platonova, người đã chọn chính vai diễn trong vở này cho buổi biểu diễn benefit của mình. Mãi đến năm 1874 opera "Boris Godunov" mới được nhà hát Mariinsky trình diễn gần như trọn vẹn (chỉ thiếu cảnh trong trai phòng tu viện Chudovo của Pimen) vào ngày 27 tháng 1. Công chúng đón nhận vở diễn một cách nồng nhiệt, nhưng giới phê bình và quý tộc - địa chủ thì phản ứng một cách quyết liệt. "Nghe đồn gia đình Sa hoàng rất không thích vở opera này, và cơ quan kiểm duyệt thì không thích chủ đề của nó" - nhạc sĩ Rimsky-Korsakov viết.
Năm 1881 Mussorgsky qua đời. Bản thảo của ông được Rimsky-Korsakov chỉnh sửa và biên tập "để sắp xếp lại gọn gàng và chuẩn bị xuất bản". Trong những năm sau đó Rimsky-Korsakov đã thay đổi một số đoạn trong libretto, cấu trúc các cảnh và cả tổng phổ của Mussorgsky.
Bản đã qua biên tập này được nhà hát tư nhân Mamontov trình diễn năm 1898, và một lần nữa vở opera được đánh giá rất cao. Người đầu tiên đóng vai Boris Godunov là ca sĩ vĩ đại Feodor Shaliapin. Trong những năm sau này, càng ngày tác phẩm thiên tài của Mussorgsky càng được đánh giá cao hơn và được trình diễn rộng rãi trên sân khấu thủ đô Moscow và các nhà hát khắp nước Nga, và sau các "mùa Nga" ở Paris, bắt đầu từ năm 1908, được công diễn rộng rãi và thành công vang dội trên sân khấu opera thế giới.
Tykva (dịch)
Nguồn:
- http://belcanto.ru
- http://musorgskiy1839.narod.ru
- http://www.opera-class.com
Libetto: Modest Mussorgsky(theo bi kịch cùng tên của A.C. Pushkin)
Công diễn lần đầu: 8 tháng 2 năm 1874
tại Nhà hát Mariinsky thành phố St Peterburg
Nhân vật: Boris Godunov: Bass
Grigory, kẻ tự xưng: Tenor
Marina: Mezzo soprano
Shuisky, công tước: Tenor
Pimen, người chép sử: Bass
Rangony, tu sĩ dòng Tên giấu mặt: Bass
Simpleton, Tiên tri ngây dại: Tenor
Varlaam: Bass
Missail: Tenor
Bối cảnh vở opera xảy ra tại Ba Lan và Nga vào các năm 1598 – 1605
Prologue:
Cảnh 1: Rất nhiều người dân tụ tập tại sân tu viện Novodevichi ngoại thành Moscow. Cảnh sát vung cây gậy tày, yêu cầu mọi người phải quỳ và cầu xin Boris Godunov lên ngôi Sa hoàng. Cha cố Tshelkanov xuất hiện trước công chúng, thông báo: "Con người cao quý không lay chuyển được! Và ngài không muốn nghe đến chuyện lên ngôi!"
Cảnh 2: Tiếng hát của các ca sĩ mù lang thang qua đường vẳng đến. Tựa trên vai những người dẫn đường, họ tiến đến tu viện, phân phát cho những người có mặt các lư hương và kêu gọi mọi người cùng cầu nguyện, xin Boris Godunov lên ngôi, cứu nước Nga.
Màn 1:
Cảnh 1: Đêm trong trai phòng của tu viện Chudovo. Già Pimen, người đã từng chứng kiến rất nhiều các sự kiện, đang chép sử. Tu sĩ trẻ Grigory ngủ trong góc phòng. Nghe vẳng tiếng cầu kinh. Grigory tỉnh giấc, thấy Pimen chưa ngủ, anh ta kể cho già Pimen nghe về giấc mơ bàng hoàng của mình và nhờ già lý giải. Giấc mơ của chàng tu sĩ trẻ tuổi gợi cho Pimen những hồi ức về các vị Sa hoàng đã buộc phải đổi "vương trượng, vương miện, bảo kiếm và ngôi báu" lấy chiếc mũ tu hành. Chết lặng trong tim, Grigory nghe lời kể của vị tiên hiền về vụ giết Thái tử Dmitri. Già Pimen vô tình nói anh ta và Thái tử Dmitri cùng một lứa tuổi, và trong trí não anh ta đã tự vẽ nên cho mình một kế hoạch đầy tham vọng.
Cảnh 2: Nhà trọ gần biên giới Lithuania. Các tu sĩ bỏ trốn là Varlaam, Misail và Grigory xuất hiện. Bà chủ nhà trọ mời họ ăn uống. Những kẻ lang thang uống rượu vang, hát hò và đọc những câu văn vần. Grigory vẫn không vui - ý nghĩ về khả năng tự xưng Thái tử đã chiếm hoàn toàn tâm trí anh ta. Anh ta đang vội tìm đường sang Lithuania và hỏi bà chủ nhà trọ đường đi. Bà chủ cho anh ta hay đường đã bị phong toả - ai đó đang bị truy nã, nhưng vòng phong toả không làm anh ta nản chí. Người phụ nữ tốt bụng kể cho Grigory nghe về cách đi đường tắt. Tiếng gõ cửa đột ngột vang lên, cảnh sát và mõ toà xuất hiện. Họ quan sát các tu sĩ đang ăn uống, tiến đến gần hỏi tên tuổi từng người và từ đâu đến. Họ đưa ra lệnh của Sa hoàng truy nã "kẻ trốn chạy khỏi tu viện Chudovo, tu sĩ thiếu tư cách Grigory dòng họ Otrepiev". Mọi người nghi ngờ chàng thanh niên, nhưng anh ta đã kịp nhảy qua cửa sổ chạy trốn. Mọi người đuổi theo.
Màn 2: Căn phòng lộng lẫy trong lâu đài của Sa hoàng tại Kremlin, Moscow. Công chúa Ksenia than khóc trước chân dung vị hôn phu yểu mệnh của mình. Hoàng tử Feodor đọc sách. Nhũ mẫu thêu ren. Bà cố gắng làm công chúa khuây khoả bằng cách hát các bài hát dân ca, Feodor nghịch ngợm cùng hát với bà. Boris xuất hiện đột ngột. Sa hoàng dịu dàng an ủi con gái, hỏi chuyện con trai về các bài học và khen khuyến khích chàng về các thành tích đạt được trong học tập. Nhưng tất cả những câu chuyện đó không dứt nổi Sa hoàng khỏi các ý nghĩ nặng nề. Đã sáu năm ông ngồi trên ngai vàng, nhưng không cảm thấy tâm hồn thanh thản vì cả nước Nga nghèo đói đang rên xiết. Ông thấy nguyên nhân mọi bất hạnh của con gái và nghèo đói của nước Nga là sự quả báo cho hành động độc ác của mình - giết Thái tử Dmitri. Nhà quý tộc Blizhny xuất hiện, phủ phục chào Sa hoàng và thông báo công tước Vassily Shuisky đang chờ tiếp kiến. Sa hoàng truyền gọi Shuisky và công tước thông báo về sự xuất hiện ở Lithuania một kẻ tự xưng là Thái tử Dmitri. Sa hoàng đòi công tước phải kể trung thực mọi chuyện mà mình biết về vụ giết Thái tử Dmitri khi chàng còn là một đứa trẻ. Công tước với vẻ mánh khoé kể lại mọi chi tiết, và Sa hoàng không chịu nổi sự tra tấn đó: Ông nặng nề ngã xuống ngai vàng - thấp thoáng trong bóng những tháp chuông trước mặt ông như hiển hiện hình bóng Thái tử đã bị giết.
Màn 3:
Cảnh 1: Phòng riêng của tiểu thư Marina Mnishek trong lâu đài Sandomir. Các cô thiếu nữ đang mua vui cho cô chủ bằng các bài hát ca ngợi sắc đẹp của tiểu thư. Nhưng tiểu thư vẫn không hài lòng, vì nàng đã chán nghe các bài ca giả dối. Nàng mơ ước cùng với vị hôn phu - Dmitri Người trả thù lên ngôi báu Vua của các Vua ở Moscow. Tu sĩ dòng Tên Rangony đột ngột xuất hiện ngoài cửa. Ông ta dùng quyền lực của nhà thờ buộc Marina bằng mọi mánh khoé của tình yêu khiến Dmitri - Kẻ tự xưng đấu tranh vì ngôi báu Sa hoàng.
Cảnh 2: Đêm trăng trong vườn, bên đài phun nước. Dmitri - Kẻ tự xưng mơ mộng về Marina. Tu sĩ Rangony lẻn đến, bằng những lời ngọt ngào về sắc đẹp của Marina, hắn moi những lời thú nhận tình yêu đắm say của Kẻ tự xưng đối với tiểu thư Balan kiêu hãnh. Một đám khách khứa ồn ào xuất hiện, họ đang ăn mừng chiến thắng của quân đội Balan trước quân của Godunov. Kẻ tự xưng lẻn ra sau bụi cây tránh mặt. Khi mọi người đã vào hết trong lâu đài, tiểu thư Marina một mình trở lại vườn. Trong duo của hai kẻ yêu nhau lẫn với những những lời trách móc, lời yêu ngọt ngào có cả những âm mưu, những kế hoạch đầy tham vọng.
Màn 4:
Cảnh 1: Moscow. Trên quảng trường trước nhà thờ Vassily Khổ hạnh người dân Moscow tập trung rất đông và bàn tán về những tiếng đồn Dmitri - Kẻ tự xưng đang mang quân đội tiến đến gần biên giới, và những lời nguyền rủa Grigory Otrepiev. Tiên tri ngây dại mang xiềng xuất hiện. Lũ trẻ chạy theo trêu chọc quấy phá và xúc phạm khiến Tiên tri rơi nước mắt. Buổi lễ sáng kết thúc. Đám rước Sa hoàng bước ra khỏi nhà thờ, các nhà quý tộc phân phát của bố thí. Boris Godunov xuất hiện, sau ông là công tước Shuisky và những người khác. Toàn dân quỳ xuống cầu xin Cha Sa hoàng bánh mì. Tiên tri ngây dại than thở với Sa hoàng về các trò nghịch của lũ trẻ và xin ông "hãy chém chúng đi như ngài đã chém Thái tử nhỏ". Dân chúng hoảng loạn trước lời cầu xin của người mất trí, quân cận vệ xông đến bắt nhà Tiên tri. Godunov ngăn cận vệ của mình lại, bỏ đi sau khi đã ngỏ lời xin Tiên tri cầu nguyện cho mình. Nhưng Tiên tri nói ông không thể làm việc đó, vì Đức Mẹ không cho phép cầu phước lành cho Sa hoàng - Sát nhân. Bằng những lời của Tiên tri ngây dại, Sa hoàng đã bị tuyên án.
Cảnh 2: Phòng lớn trong Kremlin. Duma họp kỳ họp bất thường. Công tước Shuisky xuất hiện và kể ông ta tình cờ trông thấy Sa hoàng hoảng loạn vì bóng ma của Thái tử nhỏ, và khi ông ta vừa nhắc lại lời đuổi bóng ma của Sa hoàng thì Godunov xuất hiện. Trấn tĩnh, Godunov ngồi vào ngai vàng. Shuisky xin nhà vua nghe một "người già uyên bác", muốn kể cho ngài nghe một "bí mật vĩ đại". Boris Godunov đồng ý, và già Pimen bước vào. Câu chuyện của già cũng đầy những lời bóng gió ám chỉ vụ giết Thái tử Dmitri một cách hèn mạt. Chưa nghe hết câu chuyện, Sa hoàng quá xúc động đã ngã vào tay các quý tộc. Cảm thấy sự cáo chung của mình sắp đến, ông truyền gọi con trai - Hoàng tử Feodor để dặn dò và chúc phúc truyền ngôi cho con. Vang tiếng chuông tang lễ. Boris Godunov hấp hối.
Cảnh 3: Con đường rừng ở Kromami - một làng nhỏ thuộc vùng biên giới Lithuania. Đám đông người lang thang giải nhà quý tộc Khrutshov bị trói, dọa dẫm ông ta và nói xấu Sa hoàng. Tiên tri ngây dại cũng có mặt trong đám đông, vẫn bị đám trẻ vây quanh. Xuất hiện hai tu sĩ bỏ trốn là Varlaam và Misail, kích động đám đông bằng các chuyện kể về các vụ hành hình và trả thù ở Nga. Họ kêu gọi dân chúng đứng dậy, ủng hộ Sa hoàng Dmitri. Dân chúng hô "Boris phải chết! Boris phải chết!". Các tu sĩ dòng Tên nóng nảy cũng bị kích động. Quân đội của Dmitri - Kẻ tự xưng xuất hiện, và chính Dmitri - Kẻ tự xưng trên lưng ngựa. Ông ta tự tuyên bố mình là Thái tử Nga Dmitri Ivanovich, kêu gọi tất cả mọi người theo ông ta tiến về Moscow, vào Kremlin. Dân chúng tung hô Kẻ tự xưng và đi theo ông ta. Một mình Tiên tri ngây dại ở lại. Khúc ca bi thương của ông báo trước tai hoạ, những giọt nước mắt cay đắng và thời kỳ đen tối...
Hết
"Boris Godunov" là vở opera truyền thống, là bức tranh đa diện về cả một thời đại. Tác phẩm khiến người ta ngạc nhiên về tầm nhìn rộng lớn và các tương phản táo bạo. Các nhân vật được xây dựng với chiều sâu và tâm lý sâu sắc. Âm nhạc với sức rung cảm mạnh mẽ mở ra bi kịch của tình cảnh cô đơn và tuyệt vọng của người ngồi trên ngôi báu, đồng thời mô tả tinh thần đấu tranh và tính cách mãnh liệt của nhân dân Nga theo đường lối cách tân, hoàn toàn mới mẻ.
Prologue gồm hai cảnh. Biểu diễn của dàn nhạc đệm trước khi cảnh thứ nhất bắt đầu thể hiện sự u uẩn và bế tắc bi thương. Chorus "Người bỏ chúng con lại cho ai" vang lên giống như những bài khóc buồn rầu trong dân gian. Lời kêu gọi của cha cố Tshelkalov "Hỡi các con chiên của ta! Con người cao quý không lay chuyển được! Và ngài không muốn nghe đến chuyện lên ngôi!" cùng với nỗi buồn được giấu kín chứa đựng cả sự uy nghiêm trịnh trọng. Trung tâm của cảnh này là độc thoại "Hồn ta bị giày vò" của Boris Godunov - âm nhạc ở đây ngoài tính trọng thể còn chứa đựng cả những yếu tố thể hiện sự tuyệt vọng, không lối thoát.
Cảnh đầu tiên của màn một mở ra sau một phần biểu diễn ngắn của dàn nhạc, trong đó âm nhạc mô tả tiếng bút lông ngỗng của nhà chép sử đưa trên giấy trong cái tĩnh lặng tuyệt đối của trai phòng. Độc thoại nghiệt ngã nhưng bình lặng của Pimen "Thêm một lời cuối" vẽ nên chân dung nghiêm nghị và oai phong của con người từng chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử lớn trong đời. Câu chuyện của Pimen về các Sa hoàng thấm đẫm tính chất trang trọng, mạnh mẽ. Grigory được xây dựng như một thanh niên tâm lý thất thường, tính cách bốc đồng.
Cảnh hai bao gồm những bức tranh sinh hoạt rất sống động, đặc biệt bài hát của cô gái bán rượu "Em bắt con vịt xám" và bài hát của tu sĩ chạy trốn Varlaam "Chuyện xảy ra trong thành phố Kazan" phổ nhạc các bài thơ dân gian đầy chất phóng khoáng và sức mạnh bản năng, nhất là trong bài hát của Varlaam.
Màn hai mô tả toàn diện chân dung Boris Godunov. Độc thoại "Ta đạt đến đỉnh cao quyền lực" đầy chất bi thương mãnh liệt, và những tình cảm bất an trái ngược. Xung đột trong tâm hồn Boris đạt đến cao trào trong cuộc trò chuyện với Vassily Shuisky, khi mỗi lời nói của nhà quý tộc nham hiểm này đều thể hiện vẻ gian tà và đạo đức giả. Xung đột đó đạt đến căng thẳng cao nhất trong cảnh Sa hoàng nặng nề ngã xuống ngai vàng - thấp thoáng trong bóng những tháp chuông trước mặt ông như hiển hiện hình bóng Thái tử đã bị giết.
Cảnh một của Màn ba bắt đầu bằng chorus với giai điệu rất đẹp của các cô gái "Trên sông Visla trong xanh". Aria của tiểu thư Marina "Mệt và buồn quá" được viết theo nhịp điệu mazurka thể hiện chân dung cô tiểu thư quý tộc Balan kiêu hãnh.
Dàn nhạc đệm bắt đầu cảnh hai vẽ nên bức tranh phong cảnh chiều êm đềm, mơ mộng, tiếp theo đó là những giai điệu lãng mạn và đầy xúc cảm khi Kẻ tự xưng thổ lộ tình yêu. Tiểu cảnh Kẻ tự xưng và Marina được xây dựng trên cơ sở những cảm xúc tương phản và đỏng đảnh, kết thúc bằng duo đầy những tham vọng "Ôi hoàng tử, em xin chàng".
Cảnh một của màn bốn là một bức tranh đầy kịch tính, và cao trào là lúc bài ca nghe như tiếng rên thảm thiết của Tiên tri ngây dại "Trăng lãng du, mèo gào" chuyển thành giai điệu khiến người ta rùng mình vì sức mạnh truyền cảm của chorus "Bánh mì!"
Cảnh hai màn bốn kết thúc bằng cảnh Boris hấp hối. Độc thoại cuối cùng của Sa hoàng "Vĩnh biệt, con trai ta!" trong chất bi tráng chứa những yếu tố chấp nhận và cam chịu.
Cảnh ba màn bốn là một cảnh có tầm cỡ và sức mạnh hiếm có. Chorus mở đầu "Như chim ưng bay trên những tầm cao" viết trên cơ sở giai điệu và lời ca của bài dân ca cùng tên vang lên đầy vẻ nhạo báng và dữ dội. Bài ca của Varlaam và Misail "Mặt trời và mặt trăng lu mờ" trên cơ sở các giai điệu của bylina (Tráng ca - thể loại nghệ thuật dân gian Nga). Cao trào của cảnh này là chorus nổi loạn "chứa đầy chất phóng khoáng và bản năng hoang dã với đoạn hai "Ôi, người là sức mạnh" - giai điệu chorus dân gian Nga được sử dụng một cách táo bạo phóng khoáng, và kết thúc bằng những tiếng thét căm phẫn "Boris phải chết!".
Vở opera kết thúc bằng cảnh chuyển quân trang trọng của Kẻ tự xưng và tiếng khóc bi ai của Tiên tri ngây dại.
Giáo sư ngữ văn V.V. Nikolsky là người đã hướng sự chú ý của Mussorgsky vào bi kịch "Boris Godunov" của Pushkin năm 1868. Chủ đề vở bi kịch này là các sự kiện xảy ra vào đầu thế kỷ XVII, thời kỳ đầy những biến động và bất ổn trong xã hội Nga. Các mâu thuẫn trong xã hội Nga thời kỳ này khiến người ta liên tưởng đến các mâu thuẫn trong xã hội đương đại. Mussorgsky đã tự mình viết libretto trên cơ sở nguyên tác văn học của Pushkin, chỉ bớt một vài cảnh, một vài nhân vật phụ, và thay đổi lời thơ. "Tôi coi nhân dân là một nhân vật vĩ đại, được thổi linh hồn là một tư tưởng thống nhất," - ông viết. - "Đó là nhiệm vụ đặt ra cho tôi và tôi sẽ giải quyết nhiệm vụ đó trong một vở opera".
Khi viết libretto trên cơ sở bi kịch của Pushkin, nhà soạn nhạc cũng tham khảo các nguồn tư liệu lịch sử như "Lịch sử nhà nước Nga" của N.M. Karamzin và nhiều sử liệu khác. Mussorgsky bắt đầu viết nhạc cho vở này từ tháng mười năm 1868. Khi viết xong từng cảnh, nhạc sĩ đã cho trình diễn nội bộ trong nhóm "Khoẻ", mỗi khi họ tụ tập ở nhà riêng của A.C.Dargomyzhsky hoặc L.I. Shestakova, em gái của nhạc sĩ Glinka, và một năm sau thì tổng phổ gồm 4 hồi được hoàn tất, vào mùa thu năm 1870 được nhà soạn nhạc vĩ đại mang tới ban giám đốc nhà hát hoàng gia, nhưng nó không được chấp nhận "để trình diễn trên sân khấu opera Nga". Năm 1871-1872 nhà soạn nhạc đã viết lại vở opera, và hoàn thành bản thứ hai, viết thêm cái kết bằng cuộc khởi nghĩa của nhân dân ở vùng Kromami, bằng cách đó đưa vào nội dung vở diễn một ánh sáng mới.
Vở opera đã được chỉnh sửa vẫn bị từ chối. Rimsky-Korsakov lý giải nguyên nhân là do tính cách tân trong âm nhạc của Mussorgsky đã khiến hội đồng duyệt vở cảm thấy bị đặt vào bế tắc. Thực tế, ngay trong nguyên tác văn học của Pushkin đã chứa đầy những yếu tố cách tân trong văn học, và nhà soạn nhạc cũng phá vỡ mọi "khuôn vàng thước ngọc", mọi quy định ước lệ cho opera.
Nhà soạn nhạc đã xây dựng một opera - bi nhạc kịch trên cơ sở hoàn toàn ăn khớp giữa âm nhạc và hành động kịch, các nội dung cảnh và chi tiết hóa các mô tả diễn biến tâm lý. Các cách tân của Mussorgsky trong đưa lời nói vào âm nhạc hoàn toàn khác hẳn với các quan niệm và cách hình dung quen thuộc về lời ca trong opera.
Vở opera thiên tài này chỉ được dàn dựng nhờ sự ủng hộ nhiệt thành của các nghệ sĩ tiên phong, nhất là nữ ca sĩ Iu.F.Platonova, người đã chọn chính vai diễn trong vở này cho buổi biểu diễn benefit của mình. Mãi đến năm 1874 opera "Boris Godunov" mới được nhà hát Mariinsky trình diễn gần như trọn vẹn (chỉ thiếu cảnh trong trai phòng tu viện Chudovo của Pimen) vào ngày 27 tháng 1. Công chúng đón nhận vở diễn một cách nồng nhiệt, nhưng giới phê bình và quý tộc - địa chủ thì phản ứng một cách quyết liệt. "Nghe đồn gia đình Sa hoàng rất không thích vở opera này, và cơ quan kiểm duyệt thì không thích chủ đề của nó" - nhạc sĩ Rimsky-Korsakov viết.
Năm 1881 Mussorgsky qua đời. Bản thảo của ông được Rimsky-Korsakov chỉnh sửa và biên tập "để sắp xếp lại gọn gàng và chuẩn bị xuất bản". Trong những năm sau đó Rimsky-Korsakov đã thay đổi một số đoạn trong libretto, cấu trúc các cảnh và cả tổng phổ của Mussorgsky.
Bản đã qua biên tập này được nhà hát tư nhân Mamontov trình diễn năm 1898, và một lần nữa vở opera được đánh giá rất cao. Người đầu tiên đóng vai Boris Godunov là ca sĩ vĩ đại Feodor Shaliapin. Trong những năm sau này, càng ngày tác phẩm thiên tài của Mussorgsky càng được đánh giá cao hơn và được trình diễn rộng rãi trên sân khấu thủ đô Moscow và các nhà hát khắp nước Nga, và sau các "mùa Nga" ở Paris, bắt đầu từ năm 1908, được công diễn rộng rãi và thành công vang dội trên sân khấu opera thế giới.
Tykva (dịch)
Nguồn:
- http://belcanto.ru
- http://musorgskiy1839.narod.ru
- http://www.opera-class.com
Aram Illiyich Khachaturian
Aram Illyich Khachaturian sinh ngày 24 tháng 5 (theo lịch mới là 6 tháng 6 năm 1903 tại Tiflis (ngày nay là Tbilisi, thủ đô Gruzia), mất ngày 1 tháng 5 năm 1978 tại Moscow.
Tiểu sử Aram Khachaturian, nhà soạn nhạc vĩ đại người Armenia, rất thú vị. Ông sinh ra tại Tifflis, thủ đô Gruzia, trong gia đình thợ đóng sách người Armenia. Cha mẹ ông không hề học nhạc, nhưng là những người rất tài năng trong lĩnh vực này, vì thế ngôi nhà của họ luôn tràn đầy các giai điệu âm nhạc, các bài ca và những điệu múa. Nhà soạn nhạc tương lai yêu thích âm nhạc từ thuở ấu thơ, biết chơi các nhạc cụ dân gian từ rất sớm, tuy vậy cho đến tận năm 19 tuổi Aram không hề học nhạc lý, cũng không hề có khái niệm gì về nhạc giao hưởng và opera.
"Tifflis xưa là một thành phố âm nhạc", - ông hồi tưởng về thành phố tuổi thơ của mình. - "Để có thể đắm mình vào không gian âm nhạc, tạo thành từ rất nhiều nguồn khác nhau, người ta chỉ cần đi theo các con phố nhỏ rời xa trung tâm thành phố một chút...". Hồi đó, trong thành phố có chi nhánh của Hội Âm nhạc Nga, Học viện Âm nhạc, và nhà hát Opera Italia. Các nghệ sĩ lớn như Fedor Saliapin, Sergei Rachmaninov, Konstantin Igumnov từng biểu diễn ở đây. Thành phố này cũng là nơi hoạt động của các nhà soạn nhạc về sau sẽ đóng vai trò chủ chốt trong sự xuất hiện của trường phái âm nhạc Gruzia và Armenia. Năm 1921 cùng với một nhóm thanh niên Armenia, Aram Khachaturian đến Moscow, thi vào khoa dự bị để sau đó dự thi vào khoa Toán-Lý đại học Tổng hợp Moscow. Một năm sau, năm 1922, Khachaturian một mình thi vào lớp viola Học viện Âm nhạc mang tên Anh em Gnessin, nơi ông nhận được sự giúp đỡ tận tình và nguồn cổ vũ mạnh mẽ từ các nhà sư phạm âm nhạc tài danh thời đó. Chàng trai Armenia tài năng lọt vào mắt xanh của Mikhail Gnessin và được nhà soạn nhạc này giúp đỡ rất nhiều trong học tập. Tại Moscow, lần đầu tiên trong đời Aram Khachaturian đi nghe hoà nhạc và biết đến nhạc giao hưởng.
Sự nghiệp của Khachaturian với tư cách là nhà soạn nhạc được xác định dứt khoát vào năm 1925, khi trong Học viện Gnessin xuất hiện lớp soạn nhạc. Khachaturian đã nhận được các kiến thức đầu tiên về soạn nhạc tại đây. Các tác phẩm của Beethoven và Rachmaninov làm rung động tâm hồn ông và cho ông nguồn cảm hứng để viết nên tác phẩm đầu tay "Vũ điệu cho violin và piano". David Oistrakh viết về tác phẩm này của Khachaturian như sau : "Là một nghệ sĩ vĩ cầm, tôi tự hào là "Vũ điệu..." - tác phẩm đầu tay của Aram Khachaturian, được viết cho violin. Nhà soạn nhạc vĩ đại hiểu cây vĩ cầm như một nghệ sĩ vĩ cầm thực thụ".
Tác phẩm đầu tay này đã thể hiện những nét đặc trưng cho phong cách của Khachaturian: tính ngẫu hứng, đa dạng, các thủ thuật biến cách, các thủ thuật để đạt được hiệu ứng màu âm của các nhạc cụ truyền thống phương Đông, và nhất là các ostinato được mệnh danh là "khoảnh khắc Khachaturian". Về sau chính nhà soạn nhạc đã viết: "Các khoảnh khắc đó tôi đã từng nhiều lần nghe thấy trong tuổi thơ, trong âm vang của các nhạc cụ dân gian như buben, kermancha hay sazandar-tar...". Năm 1929 Khachaturian thi vào Nhạc viện Moscow, theo học lớp soạn nhạc dưới sự hướng dẫn của nhà sư phạm âm nhạc Nikolai Iakovlevich Miaskovsky. Cùng năm này Khachaturian gia nhập dàn nhạc giao hưởng Nhạc viện Moscow. Việc S. Prokofiev thăm lớp soạn nhạc của Miaskovsky năm 1933 có ảnh hưởng lớn đến Khachaturian. Về phần mình, các sáng tác đầu tay của nhà soạn nhạc trẻ tuổi cũng khiến S.Prokofiev quan tâm đặc biệt, tới mức ông mang chúng theo trong chuyến đi Paris của mình và tại đây các tác phẩm này đã được trình diễn.
Trong thời gian này Khachaturian chuyển hướng từ các tác phẩm nhỏ tới các hình thức lớn hơn. Năm 1932 ông hoàn thành Suite dành cho piano, mà phần đầu tiên "Tokkata" sau này trở nên rất nổi tiếng, được nhiều nghệ sĩ piano tài năng thể hiện. Năm 1933 ra đời tác phẩm Suite dành cho dàn nhạc giao hưởng, cũng được giới âm nhạc đánh giá cao. Năm 1934 ông tốt nghiệp Nhạc viện và bắt đầu học nghiên cứu sinh. Tên họ của ông được khắc bằng chữ vàng trên một tấm bảng treo bên lối vào phòng hoà nhạc nhỏ của Nhạc viện. Năm 1935 tại phòng hoà nhạc của Nhạc viện Moscow bản giao hưởng số 1 của Khachaturian được dàn nhạc biểu diễn dưới sự chỉ huy của E. Senkar. Bản giao hưởng này được coi như tác phẩm tốt nghiệp của Khachaturian. Nó đánh dấu sự kết thúc một giai đoạn quan trọng trong cuộc đời nhà soạn nhạc và mở đầu một giai đoạn mới.
Năm 1937 "concerto dành cho violin và dàn nhạc" của Khachaturian lần đầu tiên được trình diễn. Cùng với các tác phẩm trước đó, bản concerto đã mang lại cho ông vinh quang trên toàn thế giới. Trong số các tác phẩm nổi tiếng nhất của Khachaturian sáng tác trước chiến tranh Vệ quốc có Giao hưởng số 2. Trong Chiến tranh Vệ quốc ông làm việc cho Đài phát thanh Liên Xô, viết các ca khúc có nội dung ái quốc và các hành khúc. Sau chiến tranh ông trở lại với nhạc cổ điển và viết nên những tác phẩm lớn mang tầm cỡ thế giới. Khachaturian đạt đến đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của mình trong các thập kỷ tiếp theo. Ông dành mối quan tâm lớn cho việc sáng tác nhạc nền cho các tác phẩm kịch nói, mà nổi bật nhất là nhạc nền cho các vở "Bà goá thành Valencia" của Lope de Vega (1940) và "Dạ hội hóa trang" của Lermontov (1941). Các suite viết trên cơ sở nhạc nền của các vở kịch này về sau trở thành các tác phẩm âm nhạc độc lập và thường xuyên được trình diễn trong các chương trình hoà nhạc lớn.
Khachaturian cũng hiểu rõ tầm quan trọng của âm nhạc trong cấu trúc một tác phẩm điện ảnh và coi trọng việc sáng tác nhạc nền cho phim điện ảnh. Ông đã viết cho điện ảnh rất nhiều, đáng kể nhất phải nói đến nhạc nền các phim "Pepo" và "Zangezar", bởi các tác phẩm này đóng vai trò quan trọng trong sự nghiệp của Khachaturian. Tuy nhiên, tài năng thiên bẩm của ông thể hiện trọn vẹn ở các tác phẩm giao hưởng. Các bản concerto cho piano với dàn nhạc (1936) và violin với dàn nhạc (1940) thành công vang dội, thể hiện sự tiếp tục và phát triển nâng cao các xu hướng đã bước đầu hình thành trong các suite trước đó và trong Giao hưởng số 1, về sau này chúng trở thành những đặc điểm chính làm nên phong cách của Khachaturian. Trong thể loại concerto ông cũng có những sáng tạo và cách tân độc đáo và táo bạo. Cuộc chiến tranh Vệ quốc vĩ đại của nhân dân Liên Xô bắt đầu năm 1941, khi Khachaturian đã nổi tiếng và được xếp vào hàng các nhà soạn nhạc lớn của đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh bất chấp mọi khó khăn gian khổ, ông vẫn say mê tìm tòi sáng tạo, nhiều tác phẩm của ông vẫn nối tiếp nhau ra đời và được trình diễn. Vở ballet Armenia đầu tiên với nhan đề "Hạnh phúc" được Khachaturian viết từ năm 1939, nhưng những khiếm khuyết của libretto khiến nhà soạn nhạc phải viết lại âm nhạc hầu như từ đầu, và trên cơ sở đó vở "Gayane" viết theo libretto của K. Derzhavin được hoàn thành. Trong tác phẩm này Khachaturian kết hợp một cách tài hoa các truyền thống của ballet cổ điển với nghệ thuật ca vũ kịch dân gian. Ballet "Gayane" cho đến ngày nay vẫn thường xuyên được trình diễn trong các nhà hát nổi tiếng trên toàn thế giới. Buổi biểu diễn ra mắt của vở ballet này được tổ chức vào ngày 3 tháng 12 năm 1942, đúng vào những ngày tháng khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh Vệ quốc. Ba suite do Khachaturian sáng tác trên cơ sở âm nhạc của "Gayane" cũng trở thành các tác phẩm độc lập được nhiều người mến mộ. Năm 1943 tác phẩm được trao giải thưởng Stalin hạng nhất - một trong những giải thưởng lớn nhất của nhà nước Liên Xô trong lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật. Chỉ một thời gian ngắn sau đó vở ballet "Gayane" đã nổi tiếng trên toàn thế giới. Năm 1943 Khachaturian hoàn thành Giao hưởng số 2. Trong tác phẩm viết vào thời chiến này thể hiện những khía cạnh mới, rất độc đáo của tài năng và sáng tạo. Âm nhạc được làm giàu thêm bởi những sắc màu mới, mang tính hoành tráng và bi hùng. "Giao hưởng số 2 của Khachaturian là tác phẩm đầu tiên của nhà soạn nhạc thiên tài, trong đó cái bi được nâng lên một tầm cao đến như thế," - D.Shostakovich viết. "Tuy nhiên, bất chấp bản chất bi kịch của nó, cả tác phẩm vẫn tràn đầy lạc quan và niềm tin vào chiến thắng. Sự kết hợp tính bi kịch và sức sống tràn đầy trong tác phẩm này cho nó một sức mạnh truyền cảm lớn". Năm 1944 Khachaturian sáng tác bản Quốc ca Armenia. Một năm sau, không lâu sau khi chiến tranh kết thúc, ông hoàn thành Giao hưởng số 3 "Chiến thắng". Tác phẩm tràn đầy cảm hứng yêu nước, một bản hành khúc chiến thắng, bản nhạc mà viện sĩ B.V. Asaphiev viết: "Âm nhạc của Khachaturian vẫy gọi: "Sẽ là ánh sáng! Sẽ là niềm vui!" Mùa hè năm 1946 nhà soạn nhạc vĩ đại hoàn thành bản concerto cho viola, được nghệ sĩ S.Knushevitsky trình bày tại Moscow và thành công vang dội. Cùng thời gian đó ông viết một loạt các ca khúc nghệ thuật phổ thơ các nhà thơ nổi tiếng của Armenia. Nếu như concerto luôn là thể loại yêu thích của nhạc sĩ thì loạt các ca khúc này có thể nói là thử nghiệm đầu tiên của ông trong thể loại lied. Năm 1956 đánh dấu sự thành công của một trong những tác phẩm vĩ đại nhất trong sự nghiệp của Aram Khachaturina - vở ballet "Spartacus". Xét về chiều sâu ý tưởng, về độ chói sáng của hình tượng nghệ thuật, về tính hoành tráng của tác phẩm kịch nghệ và những cách tân và sự dũng cảm trong cách giải quyết các vấn đề học thuật trong nghệ thuật nhạc kịch đương đại, vở "Spartacus" đáng được xếp vào hàng những vở ballet lớn nhất thế kỷ XX. Ballet "Spartacus" trở thành tác phẩm lớn nhất của Khachaturian thời hậu chiến. Tổng phổ của nó đã được nhà soạn nhạc hoàn thành vào năm 1945, nhưng đến tháng 12 năm 1956 mới được công diễn lần đầu tiên. Từ đó trở đi vở diễn liên tục có mặt trên sân khấu nhiều nhà hát danh giá nhất thế giới. Đồng thời Khachaturina cũng làm việc nhiều với nhà hát và điện ảnh. Nhạc nền cho vở kịch nói "Vũ hội giả trang" của M.Iu. Lermontov được đánh giá cao. Giai điệu của nhiều ca khúc do ông sáng tác trở nên rất được ưa chuộng và trở thành những bài hát yêu thích của nhiều thế hệ. Các tác phẩm điện ảnh Xô viết do ông sáng tác nhạc nền cũng trở nên rất nổi tiếng. Đó là các phim như "Pepo", "Vladimir Illyich Lenin", "Đô đốc Ushakov", "Trận Stalingrad"...
Từ năm 1950 Khachaturian còn làm việc với dàn nhạc với tư cách nhạc trưởng và đi biểu diễn tại nhiều nước trên thế giới. Đồng thời, ông trở thành giáo sư Nhạc viện Moscow và ĐH Sư phạm âm nhạc mang tên anh em Gnessin. Năm 1956 Khachaturian được nhận giải thưởng Lênin cho toàn bộ sự nghiệp của mình. Ông tiếp tục sáng tác hầu như đến cuối đời, nhưng các tác phẩm sau này như các concerto cho violin, viola, piano và dàn nhạc (1961, 1963, 1967), các sonata cho viola, violin và alto (1974, 1975, 1976) đã không vượt qua được đỉnh cao sáng tạo của các năm trước đó. Khachaturian dành nhiều công sức cho sự nghiệp giáo dục, suốt một thời gian dài giảng dạy lớp soạn nhạc tại Nhạc viện Moscow và ĐH SP Âm nhạc mang tên Anh em Gnessin. Ông phát triển lên đến đỉnh cao các nguyên tắc sư phạm của thầy mình là Miaskovsky, cùng với kinh nghiệm sáng tạo của cá nhân, ông trở thành người sáng lập một trường phái soạn nhạc - trường phái Khachaturian. Khachaturian cũng đạt được những thành công nhất định trong vai trò nhạc trưởng, dù ông trở thành nhạc trưởng một cách tình cờ: Trong buổi hoà nhạc với sự tham gia của nghệ sĩ nổi tiếng Leonid Kogan mừng Viện sĩ Vavilov những người tổ chức muốn mời ông đích thân chỉ huy dàn nhạc. Thành công của buổi hoà nhạc đó mở đầu cho sự nghiệp của Khachaturian với tư cách nhạc trưởng. Đời tư của nhà soạn nhạc vĩ đại không nhiều sóng gió. Với người vợ đầu tiên sinh cho ông một cô con gái - Nune Aramovna Khachaturian, là một nghệ sĩ piano. Năm 1933 ông cưới vợ lần thứ hai, bà Nina Makarova cùng học với ông trong lớp của Miaskovky. Từ cuộc hôn nhân thứ hai và rất hạnh phúc này ông có một con trai, Karen Khachaturian, hiện là một nhà nghiên cứu nghệ thuật nổi tiếng. Trong đời hoạt động nghệ thuật của mình Aram Khachaturian nhận được nhiều giải thưởng lớn của quốc gia và quốc tế. Năm 1963 ông được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học nước cộng hoà Armenia, viện sĩ danh dự Viện Hàn lâm Âm nhạc Italia Santa Cecilia (1960), giáo sư danh dự Nhạc viện quốc gia Mexico (1960), Viện sĩ thông tấn Viện Hàn lâm Nghệ thuật Cộng hoà Dân chủ Đức (1960). Ông được trao danh hiệu Giáo sư, Tiến sĩ nghệ thuật năm 1965.
Tykva (dịch)
Nguồn:
- http://www.khachaturian.am
- Bách khoa toàn thư Cyril&Methody - bài viết của L.O. Akopian
Modest Petrovich Mussorgsky
Modest Petrovich Mussorgsky sinh ngày 9 (theo lịch mới là ngày 21) tháng 3 năm 1839 tại làng Karevo tỉnh Pskov trong một gia đình địa chủ thuộc dòng họ Riurikov. Ông được mẹ dạy chơi piano và sáng tác các bản tuỳ hứng từ nhỏ, khi lên chín tuổi đã có thể trình diễn concerto của Field trước công chúng. Năm 1849 ông vào học ở trường Petropavlovsk ở Saint Peterburg và năm 1852 thì nhập học tại trường đào tạo hạ sĩ quan cận vệ và học đàn với nhà sư phạm âm nhạc nổi tiếng A.A. Gerke. Nhạc phẩm đầu tay của ông “Hạ sĩ quan cận vệ” - bản Polka dành cho piano ra mắt công chúng trong thời kỳ này. Năm 1856, dù không được đào tạo một cách bài bản về nhạc lý ông vẫn bắt tay vào sáng tác vở Opera đầu tiên dựa theo một tác phẩm văn học lớn của V.Hugo. Cùng năm này ông nhận nhiệm vụ tại trung đoàn cận vệ Preobragiensky. Năm 1857 ông làm quen với Alexander Dargomizhsky và César Cui, rồi được giới thiệu với Mily Balakirev (người thuyết phục ông học nhạc lý một cách cơ bản và soạn nhạc) và Vladimir Stasov. Chẳng bao lâu sau Mussorgsky trở thành thành viên nhóm “Moguchaya kuchka” (nhóm Hùng mạnh - nhóm các nhà soạn nhạc lấy đấu tranh cho nghệ thuật dân tộc làm tôn chỉ mục đích hoạt động của mình gồm 5 thành viên: Balakirev, Cui, Borodin, Rimsky-Korsakov và Mussorgsky). Năm 1858, do một khủng hoảng thần kinh và tâm lý, Mussorgsky giải ngũ. Chuyến thăm Moskva vào năm 1859 trở thành một sự kiện lớn trong đời Mussorgsky - nhạc sĩ bởi chính tại đây ông như trải qua một cao trào cảm hứng và các tình cảm ái quốc. Các tác phẩm âm nhạc của Mussorgsky bắt đầu được trình diễn trong các chương trình hoà nhạc, nhưng nhìn chung sự nghiệp sáng tác của ông thời kỳ này chưa ổn định. Trong hai năm sau ngày chế độ nông nô bị bãi bỏ năm 1861 ông buộc phải tham gia quản lý trang trại của gia đình. Bản giao hưởng bắt đầu sáng tác bị bỏ dở và mãi mãi không bao giờ được hoàn thiện, còn hai thầy dạy là Stasov và Balakirev bắt đầu nhìn Mussorgsky với con mắt khác và đánh giá ông “gần như là một thằng ngốc”. Tuy nhiên, Musorgsky vượt qua giai đoạn khủng hoảng này khá nhanh chóng, và lại bắt tay vào sáng tác. Năm 1863 – 1865 ông viết libretto của opera “Salambo” theo tiểu thuyết của G.Flaubert. Để kiếm sống, ông chấp nhận trở thành một viên chức nhà nước và sống trong một phòng trọ rẻ tiền. Ông nhiệt tình ủng hộ những quan điểm tiên tiến (theo cách hiểu của giới trí thức Nga thập niên 1860) về nghệ thuật, tôn giáo, triết học và chính trị. Mâu thuẫn giữa đời tư Mussorgsky với công việc của một công chức ngày càng nặng nề, năm 1865 ông lâm vào tình trạng nghiện rượu nặng, có thể một phần là do cái chết của người mẹ yêu dấu và dẫn đến hậu quả năm 1867 ông bị sa thải. Mùa hè năm 1867 Mussorgsky sống ở Minkino trong trang trại của anh ruột, và tại đây ông sáng tác thành công tác phẩm khí nhạc lớn đầu tiên của mình – “Đêm trên núi trọc. Mùa thu năm đó ông trao đổi thư từ với Dargomizhsky, vốn là một người đầy kinh nghiệm trong làm mới nghệ thuật đọc và đang thu hút sự chú ý của cả nhóm “Moguchaya kuchka”. Mong muốn hoàn thiện và phát triển các kinh nghiệm của Dargomizhsky được Mussorgsky thể hiện trong dự kiến sáng tác opera “Đám cưới” dựa trên văn bản hài kịch văn xuôi của nhà văn N.V.Gogol, tuy nhiên, sau khi đã hoàn thành chương I của vở opera này thì ông từ bỏ ý định. Năm 1869 Mussorgsky quay lại công sở nhà nước, và nhờ sự ổn định một cách tương đối trong cuộc sống ông đã có thể hoàn thành bản đầu tiên của vở opera lớn “Boris Godunov” trên cơ sở libretto của chính mình dựa theo các tác phẩm của A.C. Pushkin và N.M. Karamzin. Tác phẩm này bị hầu hết các nhà hát thời đó từ chối do thiếu vai nữ chính, nên nhà soạn nhạc buộc phải viết phiên bản sau của nó. Năm 1872 vở opera được sửa chữa nhưng vẫn bị từ chối, dù các trích đoạn từ tác phẩm đã được công diễn rộng rãi, còn tổng phổ của nó đã được nhà xuất bản V.Bessel giới thiệu với công chúng. Mãi sau nhà hát Mariinsky mới nhận lời dựng vở, và buổi công diễn ra mắt năm 1874 đã thành công vang dội. Năm 1870 Mussorgsky hoàn thành các tiểu phẩm thanh nhạc “Cho trẻ em” với phần lời do chính ông soạn, và hai năm sau thì bắt tay vào sáng tác vở opera thứ hai trong sự nghiệp của mình với chủ đề lịch sử Nga. Nguyên bản libretto “Khovanshchina” viết về chủ đề các sự kiện lịch sử đã diễn ra vào thời trị vì của vua Piotr Đại đế. Mussorgsky có ý tưởng sáng tác một tác phẩm hoành tráng mà chính ông dùng thuật ngữ “opera truyền thống”, vậy mà ông đã không thể hoàn thành tác phẩm này. Một trong các nguyên nhân là bệnh nghiện rượu, và hơn thế, ông lại dành thời gian cho nhiều ý tưởng sáng tác khác nữa. Suốt thập kỷ 1970 ông đã viết nên những tác phẩm thanh nhạc lớn như “Thiếu mặt trời” và “Ca khúc và vũ điệu của thần chết” phổ thơ A.A. Golenitshev, nhà thơ được Mussorgsky đánh giá rất cao, đồng thời ông hoàn thành tuyệt tác dành cho piano “Những bức tranh trong phòng triển lãm” nhân cảm hứng khi xem các phác thảo của kiến trúc sư V.A. Gartman. Đó cũng là thời gian Mussorgsky bị lôi cuốn bởi ý tưởng sáng tác vở opera “Hội chợ Sorochinskaya” (dựa theo tác phẩm của nhà văn Gogol, và tác phẩm chưa kịp hoàn thành). Năm 1878 cuộc sống của nhà soạn nhạc dường như ổn định và được cải thiện trong một thời gian ngắn. Ban lãnh đạo Bộ nơi ông làm việc đã quyết định cho phép ông nghỉ để đi lưu diễn ở miền Nam Nga với tư cách là người đệm đàn cho nữ ca sĩ giọng contralto nổi tiếng Daria Leonova (1829 - 1896). Trong thời kỳ lưu diễn này Mussorgsky viết “Khúc hát của Mefistofel về con bọ chét”. Tháng giêng năm 1880 ông thôi việc tại công sở nhà nước để làm việc trong trường dạy thanh nhạc riêng của Daria Leonova, tuy nhiên bệnh động kinh, hậu quả của tệ nghiện rượu tái phát đến mức tháng hai năm 1881 ông bị đưa vào viện quân y Nikolaev ở Saint Peterburg, và một tháng sau, ngày 16 (28) tháng 3 năm 1881 thì qua đời tại đó. Bản thân Mussorgsky luôn coi sáng tác của mình là “cuộc trò chuyện với mọi người” và coi nói sự thật với tất cả mọi người là nghĩa vụ của mình, sự thật mà ông luôn đặt vào vị trí đối lập với vẻ đẹp hoàn hảo của thứ nghệ thuật đơn thuần. Chính vì quan niệm đó mà âm nhạc của ông có những nét đặc trưng như tính không hoàn thiện trong các chi tiết hình thức, một phần là do ông tỏ ra cố tình không chấp nhận các quy tắc truyền thống của nhạc hàn lâm. Sau khi Mussorgsky qua đời, nhạc sĩ Nicolai Rimsky-Korsakov, một người bạn thân của ông đã nhận trọng trách hoàn thiện tổng phổ và biên tập cho các tác phẩm lớn nhất mà ông để lại như “Khovanshchina”, “Boris Godunov”, các romance, “Đêm trên núi trọc”. Rimsky-Korsakov đã phải can thiệp rất nhiều vào các bản thảo của Mussorgsky, sửa chữa tất cả những “lỗi” và cả những gai góc mà nhà soạn nhạc cố tình để trong bản thảo của mình. Trong cả hai vở opera Rimsky-Korsakov đã phải rút ngắn nhiều chỗ, thậm chí thay cả thứ tự các cảnh. Nhờ việc hiệu đính của Rimsky-Korsaskov mà các sáng tác của Mussorgsky mới được phổ biến rộng rãi tại Nga và cả ở nước ngoài, nhưng lại khiến thính giả khó mà hiểu sâu bản nguyên gốc chưa được sửa chữa của ông. Cả hai vở opera của Mussorgsky không chỉ là các tác phẩm hoành tráng, và về một khía cạnh nào đó, rất “lạ” đối với nhà hát (trong các bản do Rimsky-Korsakov hiệu chỉnh đặc biệt nhấn mạnh tính hoành tráng và tượng đài của tác phẩm) mà còn thể hiện cái nhìn lịch sử - triết học sâu sắc, đa nghĩa của tác giả. Phát triển và bỏ lại khá xa những khám phá và cách tân của Dargomizhsky, Mussorgsky đã sáng tạo ra một kiểu thể hiện các đoạn hát nói mới hoàn toàn trong âm nhạc Nga. Bằng một ngôn ngữ hài hoà và nhiều âm điệu Mussorgsky thể hiện rõ sự đối lập giữa các yếu tố thuần Nga và ngoại lai. Để thể hiện các yếu tố ngoại lai ông đã rất thành công khi sử dụng phong cách lãng mạn châu Âu (những người Ba Lan trong “Boris Godunov”, người Đức trong “Khovanshchina”) và bắt chước các đặc điểm phương Đông (những người Ba Tư trong “Khovanshchina”). Các tiểu phẩm thanh nhạc, các bản romance và ca khúc của Mussorgsky được sáng tác trên nền cảm hứng và khát khao thể hiện muôn vẻ của cuộc sống một cách trung thực nhất. Trong số đó các tiểu phẩm dành cho piano “Những bức tranh trong phòng triển lãm” chiếm một vị trí quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của nhạc sĩ. Đây là tác phẩm lớn duy nhất được chính Mussorgsky hoàn thiện, sáng tác với nguồn cảm hứng từ các bức phác hoạ khiêm tốn của Gartman, đạt tới tầm của các giao hưởng trong đó các bức tranh riêng biệt được tập hợp trong một tổng thể thống nhất bằng một ý tưởng đầy kịch tính xuyên suốt. Không phải vô cớ mà các tiểu phẩm “Những bức tranh trong phòng triển lãm” được nhiều người soạn lại cho dàn nhạc, mà đỉnh cao là tổng phổ của Maurice Ravel năm 1922. Hầu hết các nhà soạn nhạc lớn của Nga thế kỷ XX như Prokofiev, Stravinsky, Shostakovich vả kể các nhạc sỹ như Janacek của Czech hay Messiaen của Pháp đều chịu ảnh hưởng sâu sắc của Mussorgsky. Năm 1968, Viện bảo tàng trang trại của Mussorgsky mở cửa tại làng Naumovo (nay thuộc vùng Kunhin tỉnh Pskov).
Tykva (tổng hợp)
Nguồn :
- http://classic.chubrik.ru
- Bách khoa toàn thư Kirill&Methody (2005)- Bài viết của L.O.Akopian
Alexander Nicolaevich Scriabin
Alexander Nikolaevich Scriabin (sinh ngày 25 tháng 12 năm 1871 (theo lịch mới là 6 tháng giêng năm 1872) tại Moscow. Tài năng âm nhạc của Scriabin được thể hiện từ rất sớm, do ông được thừa hưởng di truyền từ mẹ, nghệ sĩ piano nổi tiếng Liubov Petrovna Scriabina. Tài năng của bà được anh em Anton và Nikolai Rubinstein, Borodin và cả Tchaikovsky khen ngợi. Là con gái hoạ sĩ vẽ gốm Peter Tshetinin, năm 1870 bà kết hôn với Nikolai Alexandrovich Scriabin, sinh viên khoa luật trường Đại học tổng hợp Moscow, và khi tốt nghiệp nhạc viện Saint Peterburg đã đi lưu diễn rất thành công tại nhiều thành phố của Nga.
Về phần mình, sau khi tốt nghiệp ĐHTH Moscow, ông Nikolai Scriabin tiếp tục con đường học vấn tại Đại học ngôn ngữ Phương Đông thành phố Saint Peterburg và trở thành một nhà ngoại giao. Ông làm việc ở Thổ Nhĩ Kỳ và các nước phương Đông khác, ít khi sống ở Nga.
Bà Liubov Petrovna mất vì bệnh lao năm 1873, để lại con trai duy nhất Alexander mới một tuổi rưỡi cho cô em chồng chăm sóc. Niềm say mê piano của bà cô ruột đã truyền sang cho cậu bé Alexander, nhạc sĩ tương lai.
Từ năm 1882 Alexander bắt đầu học piano dưới sự hướng dẫn của sinh viên Nhạc viện Moscow G. Konius (1862 - 1933), người sau này sẽ trở thành nhà lý luận âm nhạc và nhạc sĩ nổi tiếng. Mùa thu cùng năm ông thi đỗ vào Trường thiếu sinh quân số 2 thành phố Moscow và trong suốt thời gian học tại trường luôn đứng đầu về thành tích học tập. Ngay từ khi còn niên thiếu ông đã tham gia các buổi biểu diễn tại phòng hoà nhạc của Trường Thiếu sinh quân, và tại một trong các buổi biểu diễn đó khi đang trình bày một bản gavotte của Bach, ông đã chơi sai, nhưng không hề bối rối, tiếp tục chơi ngẫu hứng theo đúng phong cách của thiên tài người Đức này cho đến hết. Bản lĩnh tự chủ và ý chí tập trung cao độ của một nhạc công luôn là nét tính cách nổi bật của Scriabin - nghệ sĩ piano trong suốt cuộc đời.
Năm 1885 Scriabin bắt đầu học piano với nhà sư phạm âm nhạc lỗi lạc N. Zverev, và học sáng tác với S. Taneev. Năm 1988 Scriabin thi vào lớp piano Nhạc viện Moscow và thường xuyên biểu diễn. Tác giả yêu thích nhất của ông là Chopin, nhưng ông cũng chơi cả Liszt, Beethoven và Schumann. Quyết tâm hoàn thiện kỹ năng bằng mọi giá đã dẫn đến một bi kịch trong đời Scriabin và để lại hậu quả vĩnh viễn: Ông đã không hỏi ý kiến giáo viên mà tự ý luyện tập đến mức tay bị chấn thương. Nhờ nỗ lực của các bác sĩ giỏi nhất đôi tay của ông được phục hồi chức năng, nhưng ông không bao giờ còn có thể chơi nhạc với kỹ thuật cao như trước. Sự kiện này có ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của nhạc sĩ.
Năm 1892, Scriabin tốt nghiệp khoa piano Nhạc viện Moscow, nhưng không được nhận bằng về sáng tác, do quan hệ cá nhân của ông với giáo sư A. Arensky, người hướng dẫn khoa sáng tác vào thời gian đó, không được suôn sẻ. Bởi thế, ông được ghi tên vào ngành lịch sử Nhạc viện Moscow và là sinh viên tốt nghiệp với Huy chương vàng Nhỏ. Cho tới thời gian này nhà soạn nhạc trẻ tuổi đã có khá nhiều tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, nhưng khuynh hướng piano và nhạc giao hưởng đã được xác định khá rõ nét. Phong cách chung cho các tác phẩm thời kỳ đầu tiên của Scriabin có thể xếp vào trào lưu hậu lãng mạn với sự tiếp tục các truyền thống của Chopin, tuy nhiên ngay trong các etude và prelude “hậu lãng mạn” này các yếu tố ngôn ngữ âm nhạc hài hoà hiếm thấy ở một nhà soạn nhạc cách tân tài năng đã được thể hiện.
Năm 1894 xảy ra một sự kiện lớn trong cuộc đời Scriabin. Ông gặp vị “Mạnh thường quân” nổi tiếng thời đó là M. P. Beliaev. Beliaev hầu như ngay lập tức đã đánh giá rất cao tài năng của nhà soạn nhạc trẻ, có phong cách giao tiếp tinh tế và được hưởng một nền giáo dục hoàn hảo. Từ đó trở đi các sáng tác của Scriabin bắt đầu được xuất bản và vang lên trong các chương trình hoà nhạc giao hưởng Nga.
Năm 1896 Scriabin đã là một nhà soạn nhạc nổi tiếng trong toàn quốc. Đây cũng là năm xảy ra nhiều đổi thay trong đời tư của nhạc sĩ. Alexander Nikolaevich Scriabin kết hôn với cô Vera Ivanovna, một nghệ sĩ piano tài năng, tốt nghiệp Nhạc viện Moscow với Huy chương vàng năm 1897. Họ cùng đi lưu diễn nước ngoài trong năm 1897-98, Vera Ivanovna cùng biểu diễn với chồng trong các buổi hoà nhạc và trình diễn các tác phẩm của ông.
Ở lứa tuổi 26, Scriabin đã nhận được lời mời trở thành giáo sư lớp piano tại Nhạc viện Moscow. Trên cương vị này ông tỏ rõ mình là một nhà sư phạm âm nhạc tài năng. Ông giảng dạy piano tại Nhạc viện Moscow và Trường đại học Ekaterinin. Rất nhiều học sinh sau khi tốt nghiệp trường này đã tiếp tục học vấn âm nhạc tại Nhạc viện Moscow trong lớp piano của Scriabin.
Tuy nhiên Scriabin vẫn giành phần lớn thời gian và sức lực để sáng tác. Năm 1900 và hầu như cả năm sau đó ông giành cho việc hoàn thiện Giao hưởng số 1 – tác phẩm đồ sộ gồm 6 chương, kết thúc bằng một chorus, phần lời của chorus này do chính Scriabin viết. Ý tưởng chính là tôn vinh nghệ thuật và vai trò kiến tạo hoà bình, liên kết mọi con người của nghệ thuật. Chính từ Giao hưởng số 1 này đã định hình các chủ đề chính mà nhạc sĩ sẽ phát triển trong sự nghiệp sáng tác của mình sau này, nhất là các ý tưởng chính của tác phẩm âm nhạc mang tính tôn giáo vĩ đại “Mystery” mà ông không kịp hoàn thành. Sau Giao hưởng số 1 là Giao hưởng số 2, rồi Giao hưởng số 3 “Trường ca thần thánh” (Le divin poème) mà ông hoàn thành vào năm 1904. Tầm cỡ của giao hưởng này khiến người ta choáng váng: Nhạc sĩ đã sử dụng dàn nhạc tới bốn quản. Cũng chính trong giao hưởng này tài năng của Scriabin - nhà soạn kịch được thể hiện hết tầm. Tác phẩm gồm 3 chương có bố cục hoàn chỉnh, liên kết với nhau bởi một ý đồ thống nhất. Chương một có tên gọi “Tranh đấu”, chương hai – “Tận hưởng” còn chương ba – “Màn trình diễn thần thánh".
Trong sự nghiệp sáng tác của mình Scriabin chịu ảnh hưởng sâu sắc từ các đại diện nghệ thuật Phục hưng Nga, nhất là V. Soloviev, V. Ivanov. Nghệ thuật trừu tượng, với ý tưởng trung tâm là tái tạo cuộc sống trong nghệ thuật mang màu sắc thần bí, đôi khi được đẩy đến tận cùng, là nỗ lực xa rời đời thường, phản ánh những nét tinh tế, nóng bỏng nhất của tâm hồn nghệ sĩ. Tham gia nhóm triết học S.N. Trubetskoi và tin theo học thuyết của ông, Scriabin đồng thời cũng say mê triết học của Kant, đọc các tác phẩm của Kant, Shelling, Hegel... trong thời gian sống ở Geneve. Ông cũng quan tâm đến сác học thuyết tôn giáo phương Đông, văn học thần học hiện đại, nhất là tác phẩm "Học thuyết bí mật" của E.P. Blavatskoi. Từ đây ông nhận thức được bản thân mình như trung tâm và cội nguồn của một học thuyết mới, có khả năng thay đổi cuộc sống, đưa cuộc sống lên một vòng xoay phát triển ở mức cao hơn. Theo Scriabin, nghệ sĩ giống như một tiểu vũ trụ, có thể ảnh hưởng đến toàn thể thế giới, các quốc gia và thậm chí cả thế giới quan chung.
Từ năm 1904 tới năm 1910, Scriabin sống vào làm việc ở nước ngoài, ít khi trở về Nga, và trong cuộc sống riêng của ông xảy ra một sự kiện quan trọng hầu như đã thay đổi cả cuộc đời ông. Nhạc sĩ say mê một phụ nữ tên là Tatiana Fedorovna Shletser. Ông rất đau khổ vì tình cảm của mình và luôn giày vò bản thân bởi nhận thức đã làm một việc “rất đáng trách”. Vera Ivanovna buộc lòng phải mang các con quay về Moscow, nơi bà tiếp tục sự nghiệp của một nghệ sĩ piano, và nhận một chân giảng viên Nhạc viện. Bà không chấp nhận đề nghị ly hôn do ông đưa ra và tiếp tục mang họ chồng. Vậy là Tatiana Fedorovna đành phải chấp nhận vai trò vợ không chính thức của nhà soạn nhạc.
Tháng 10 năm 1905, Tatiana Fedorovna sinh một con gái. Scriabin sống rất căng thẳng. Fedorovna làm đủ mọi cách khiến ông tin rằng đáng lẽ nhà xuất bản Beliaev phải trả ông nhiều tiền nhuận bút hơn, và vì thế, ông đã cắt đứt quan hệ với nhà xuất bản vào năm 1908. Tuy thế, ông đã không thể đưa tác phẩm của mình đến các nhà xuất bản khác, nên đành phải quay lại với sự nghiệp biểu diễn để kiếm tiền. Ông đã biểu diễn ở Geneve, Brussel, Amsterdam và nhiều thành phố châu Âu khác. M.I. Altshuler, một người bạn của Scriabin hồi còn ở Nhạc viện mời ông tham gia biểu diễn cho dàn nhạc Giao hưởng Nga do chính Altshuler thành lập ở New York.
Trở về châu Âu từ Mỹ, Scriabin định cư ở Paris, nơi ông thường xuyên gặp gỡ với các nhà soạn nhạc và nghệ sĩ lớn của Nga như Rimsky-Korsakov, Glazunov, Rachmaninov, Shaliapin… Tình hình tài chính của gia đình tạm ổn, và ông như được tiếp thêm cảm hứng sáng tác nhờ quan hệ với bạn hữu. Năm 1907 Scriabin hoàn thành "Poem of Ecstasy" đã được thai nghén từ lâu, và năm 1908 nó mang lại cho ông giải thưởng mang tên Glinka lần thứ mười một. Buổi công diễn đầu tiên của tác phẩm được giải được tổ chức ở Nga năm 1909, và dàn nhạc Hoàng gia Peterburg có vinh dự chơi bản nhạc này. Tài năng của Scriabin đạt tới đỉnh vinh quang cao nhất.
Tác phẩm lớn tiếp theo của Scriabin là “Trường ca Lửa” – “Prometheus”. Ở đây, cũng như trong "Poem of Ecstasy", nhà soạn nhạc viết cho một dàn nhạc rất lớn, thêm cả phân phổ cho piano và một chorus hỗn hợp quy mô. “Trường ca Lửa” đòi hỏi phải được trình diễn với sự tham gia của ánh sáng nhiều màu toả sáng khán phòng theo nhịp các phím piano. Hiện nay người ta không giải mã được trọn vẹn các ghi chép miêu tả cụ thể phần trình diễn của ánh sáng này, được định hướng với một bảng mà nhà soạn nhạc gọi là “màu của thính giác”, mô tả sự tương ứng của màu sắc với âm thanh mà người ta cảm nhận được. Ngoài cách tân trong việc mở rộng phổ liên tưởng giữa âm thanh và thị giác với cảm thụ âm nhạc, Scriabin còn đưa vào tác phẩm lớn này một thứ ngôn ngữ hài hoà mà không dựa trên hệ thống cao độ truyền thống. Thế nhưng thành công lớn nhất mang tính cách mạng của tác phẩm này lại nằm trong cách nhìn mới, cách lý giải mới của hình tượng Promethe, và mở ra con đường đến tác phẩm “Mystery”.
Suốt năm năm cuối đời Scriabin chìm trong ý tưởng về một tác phẩm âm nhạc chưa từng có trong lịch sử. Tất cả các tác phẩm ra đời sau “Prometheus” có lẽ cần phải được xem xét như sự chuẩn bị, các phác thảo cho tác phẩm “Mystery”. Trở lại Nga, Scriabin sống ở Moscow, nơi đã hình thành một “nhóm Scriabin”, hạt nhân của “Hội Scriabin” sau này. Các tác phẩm giao hưởng và viết riêng cho piano của ông được trình diễn khắp nơi, có mặt trong mọi chương trình biểu diễn. Làm việc quá sức, nhà soạn nhạc thường xuyên cảm thấy mệt mỏi và uể oải.
Năm 1914, Scriabin thăm London, dự buổi công diễn đầu tiên tác phẩm “Prometheus” và biểu diễn các tác phẩm của chính mình. Lần đầu tiên ông bị mắc phải đinh râu, căn bệnh mà sau này sẽ trở thành nguyên nhân dẫn đến cái chết của ông. Nhưng dù phải biểu diễn với môi trên đau nhức, ông vẫn tỏ ra hết sức xuất sắc, nhận những lời tán dương và những tràng pháo tay nồng nhiệt của khán giả London vốn nổi tiếng khó tính và biểu hiện tình cảm chừng mực. Các buổi biểu diễn đưa lại cho ông điều kiện vật chất cần thiết để dựng tác phẩm “Mystery” - điều ông mơ ước từ lâu. Scriabin cũng muốn mua đất ở Ấn Độ để dựng một ngôi đền, như kiểu một “minh hoạ thực tế” cho các ý tưởng sáng tạo vô cùng đồ sộ của mình.
Ngày 2 (lịch cũ là 15) tháng 4 năm 1915 Scriabin biểu diễn lần cuối cùng. Ông thấy rất mệt. Môi trên lại bị sưng tấy, giống như hồi ở London. Tình trạng sức khoẻ của ông xấu đi nhanh chóng, và việc phẫu thuật muộn mằn đã không giúp gì cho ông. Ông sốt cao do nhiễm trùng máu và mất vào buổi sáng ngày 14 (27) tháng 4 năm 1915.
Trong nền âm nhạc cổ điển Nga, Scriabin chiếm một vị trí rất đặc biệt. Các tác phẩm của ông cho đến nay vẫn gây nên những tình cảm trái ngược ở người nghe. Về quan điểm triết học của ông một số người thì cười cợt và xem thường, nhưng những người khác lại khâm phục. Trong sự nghiệp sáng tác đầy mâu thuẫn của mình ông tuân thủ chặt chẽ các chuẩn mực truyền thống, đồng thời khát khao phá vỡ mọi chuẩn mực đó, thể hiện trong các cách tân mạnh mẽ cách phương tiện biểu cảm trong tác phẩm của mình. Mọi thế hệ đều không thể phủ nhận thiên tài của ông, đều tìm cách lý giải sáng tác của ông theo cách riêng của mình, và gắng đưa các ý tưởng của ông vào khuôn khổ các khái niệm của mình.
Đôi khi người ta còn cho rằng để hiểu hết Scriabin nhân loại còn cần nhiều thời gian nữa, bởi không chỉ những người đương thời, mà cả các thế hệ kế cận, trong đó có chúng ta, chưa đủ trình độ để hiểu và đánh giá hết chiều sâu, sự phức tạp, tính riêng biệt của học thuyết vũ trụ được Scriabin thể hiện trong các tác phẩm của mình, bởi ông đã vượt trước thời đại của mình rất xa. Âm nhạc của Scriabin cũng vậy. Một thời gian nào đó các tác phẩm của ông có thể bị lãng đi đôi chút, nhưng chúng luôn trào dâng trở lại như những làn sóng mạnh mẽ, và không bao giờ hoàn toàn vắng bóng trong đời sống âm nhạc của xã hội chúng ta.
Tykva (tổng hợp)
Nguồn:
- Bách khoa toàn thư Kirill & Methody
- http://www.silverage.ru
- http://www.musicbox.su – Bài viết của Vladimir Kokonin
Subscribe to:
Posts (Atom)